Chuyên trang cao su

Thứ hai, 02/03/2015

Last update:08:53:48 AM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU

KỸ THUẬT CAO SU

Kỹ thuật thu hoạch mủ cao su

I. MỞ ĐẦU

argaiv1463

Cây cao su hiện đang được trồng rộng rãi ở Việt Nam có tên gọi là cây cao su ba lá (tên khoa học làHevea brasiliensis). Cây cao su có nguồn gốc ở Bra-xin thuộc châu Mỹ La Tinh, đã được du nhập và trồng tại VN từ cuối thế kỷ 19. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 2,4 tỉ USD đứng hàng thứ ba trong các loại nông sản xuất khẩu.

Cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời gian chăm sóc cao su từ lúc bắt đầu trồng đến lúc bắt đầu thu hoạch mủ kéo dài từ 5 – 7 năm và thu hoạch liên tục trong nhiều năm. Do thời gian thu hoạch mủ kéo dài trong nhiều năm nên việc  thu hoạch mủ đúng kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo năng suất cao và bền vững trong nhiều năm.

Việc thu hoạch  thường kéo dài liên tục 8 – 10 tháng trong năm chứ không theo mùa vụ như các loại cây trồng khác. Để thu hoạch mủ, người ta dùng dao cạo đi một lớp vỏ mỏng trên thân cây để mủ chảy ra và hứng vào chén. Như vậy, muốn thu hoạch mủ ta đã gây ra vết thương cho cây.

II. TỔ CHỨC KHAI THÁC CÂY CAO SU

1. Tiêu chuẩn cây cao su đưa vào cạo mủ

Cây cao su được xem là đủ tiêu chuẩn mở cạo khi bề vòng thân cây đạt từ 50 cm trở lên, đo cách mặt đất 1 m. Cần tránh việc cạo cây quá nhỏ (dưới 40 cm) vì khi bắt đầu mở cạo, sinh trưởng của cây bị chậm lại, cây chậm lớn để cho năng suất lâu dài về sau.

Ngày nay, có nhiều giống cao su sinh trưởng nhanh nhưng vỏ cạo thì mỏng nên khó cạo. Do khi cạo trên lớp vỏ mỏng dễ bị cạo phạm.Vì vậy, một tiêu chuẩn nữa cần xem xét là cây đủ tiêu chuẩn cạo khi độ dầy vỏ trên 6 mm. Tiêu chuẩn này cũng áp dụng cho vỏ tái sinh.

2. Số cây trên một phần cạo (số cây một người có thể cạo trong ngày)

Tùy theo địa hình, tuổi cây cạo và sức khỏe của người công nhân cạo mủ. Một người có sức khỏe bình thường có thể cạo miệng ngửa được 400 – 500 cây/ngày.

Trong trường hợp cạo hai miệng úp và ngửa thì số cây cạo chỉ trong khoảng 320 – 380 cây/ngày.

3. Trang bị vật tư cho cây cạo mủ

Cây cạo được trang bị đầy đủ các vật tư: Kiềng, chén, máng. Máng đóng nghiêng dưới miệng tiền 10 cm, kiềng buộc cách miệng tiền 25 cm – 35 cm, không được đóng kiềng vào thân cây cao su.

Kỹ thuật thu hoạch mủ cao su

Trang bị vật tư cho cây cạo mủ

Chén hứng mủ làm bằng đất nung, trong lòng chén có tráng lớp men sứ để dễ bóc mủ chén.

Vào mùa mưa phải trang bị máng chắn nước mưa cho cây cao su.

4. Thiết kế miệng cạo

a) Chiều cao miệng cạo:

Miệng cạo cây mới mở có miệng tiền đo 1,3 m cách mặt đất.

b) Độ dốc miệng cạo:

Tùy theo tuổi cây, độ dốc miệng cạo so với trục ngang là:

- Cây mới cạo (tuổi cạo 1 – 10)                 : 340

- Cây trung niên (tuổi cạo 11 – 17)           : 320

- Cây già (trên 17 tuối cạo)                         : 300

- Cây cạo úp                                                  : 450

c) Hướng miệng cạo:

Miệng tiền được mở đồng loạt cùng một hướng trong lô.

d/ Mở thêm (mở dặm):

Vào tháng 4 và tháng 10 hàng năm mở cạo thêm những cây đã đủ tiêu chuẩn mở miệng cạo. Đầu năm cạo thứ 3 mở cạo tất cả các cây vanh > 40 cm. Miệng cạo có cùng độ cao hiện tại của các cây mở trước.

5. Mở miệng cạo.

Sau khi thiết kế, cạo xả miệng 3 nhát dao:

- Nhát 1: Cạo chuẩn.

- Nhát 2: Vạt nêm.

- Nhát 3: Hoàn chỉnh miệng cạo, cạo ép má dao từ từ đến độ sâu cạo quy

định, tránh không để cạo phạm khi mở miệng cạo.

Mức độ hao vỏ cạo khi mở miệng cho phép tối đa từ 1,5 – 2,0 cm.

III. CHẾ ĐỘ CẠO

Chế độ thông dụng hiện nay là cạo nửa vòng thân cây (S/2), nhịp độ cạo có thể là d2 hoặc d3. Không nên áp dụng chế độ cạo d1 vì mau hết vỏ cạo, cây bị kiệt sức sau vài năm cạo, năng suất thấp, hàm lượng mủ thấp. Đề nghị nên áp dụng chế độ cạo d3 kết hợp với bôi chất kích thích nồng độ 2,5% vì chế độ cạo này ít gây vết thương cho cây cao su, tiết kiệm vỏ cạo do vậy bảo đảm năng suất về lâu dài đạt hiệu quả cao.

IV. MỘT SỐ CHỈ TIÊU KỸ THUẬT CHỦ YẾU TRONG VIỆC CẠO MỦ

1. Thời vụ cạo mủ

Việc mở miệng cạo các vườn cây mới đưa vào cạo được tiến hành vào các tháng 3 – 4 (trước mùa mưa) và cuối tháng 10 (sau mùa mưa).

Vuờn cây đang khai thác cho nghỉ cạo lúc cây cao su ra lá mới, (thường vào tháng 1 hay tháng 2). Cây được cạo lại khi đã có tầng lá đã ổn định (vào tháng 3 – 4).

2. Độ sâu cạo mủ

Quy định từ 1,0 mm – 1,3 mm cách tượng tầng. Tránh cạo cạn, cạo sát, tuyệt đối không được cạo phạm.

3. Mức độ hao dăm – Đánh dấu hao dăm

Đối với miệng cạo ngửa, hao dăm 1,1 – 1,5 mm/lần cạo. Hao vỏ cạo tối đa 16 cm/năm đối với nhịp độ cạo d3; 20 cm/năm đối với nhịp độ cạo d/2.

Đối với miệng cạo úp có kiểm soát, hao dăm không quá 2 mm/lần cạo. Hao vỏ tối đa 3 cm/tháng.

Đối với miệng cạo úp ngoài tầm kiểm soát, hao dăm không quá 3 mm/lần cạo. Hao vỏ tối đa 4,5 cm/tháng.

Hàng năm, trước khi bắt đầu cạo lại, dùng móc hoặc dao đánh dấu hao vỏ cạo, dùng rập vạch trên vỏ cạo các vạch chuẩn để khống chế mức hao vỏ từng tháng, quý kết hợp khống chế độ dốc miệng cạo.

4. Tiêu chuẩn đường cạo

Đường cạo đúng tiêu chuẩn khi có đúng độ dốc, có lòng máng, vuông tiền, vuông hậu, không lệch miệng, không vượt tuyến, không gợn sóng.

5. Giờ cạo mủ – Trút mủ

a) Giờ cạo mủ:

Chi bắt đầu cạo khi thấy rõ đường cạo. Vào mùa mưa không nên cạo khi vỏ cây bị ướt. Phải chờ đến khi ráo nước mới cạo.

b) Trút mủ:

Khi mủ ngưng chảy thì tiến hành trút mủ, nếu trời chuyển mưa thì trút mủ sớm để tránh mủ bị rửa trôi.

Cây nào cạo trước trút trước. Dùng vét tận thu mủ trong chén.

6. Dụng cụ cạo mủ cần có

- Dao cạo mủ.

- Đá mài dao (1 viên đá xả, 1 viên đá bùn).

- 1 giỏ đựng mủ tạp và mủ dây.

- Trang bị vật tư cho cây cạo mủ

Kỹ thuật thu hoạch mủ cao su

Dụng cụ cạo mủ cần có

- 1 thùng trút 15 lít.

- 1 thùng chứa 25 – 30 lít.

- 1 vét mủ.

- 1 nạo vỏ.

- 1 đòn gánh.

- 1 ống thuốc mỡ.

- 1 giẻ lau.

Các dụng cụ này phải thật sạch sẽ, dao được mài bén thường xuyên.

7. Công việc trước và sau khi cạo mủ từng cây

Trước khi cạo, phải bóc mủ dây, mủ chén, sửa lại kiềng, máng, úp chén trên kiềng. Cạo xong, ngửa chén lên và dẫn mủ chảy vào chén rồi mới qua cạo cây khác.

Hướng đi cạo theo những cây kế cận nhau, sau mỗi lần cạo phải đổi đầu cạo.

Sau khi trút mủ xong đặt chén mủ lại vị trí củ để hứng mủ chảy trễ, tránh trút sót mủ.

V. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý

- Cạo mủ được tiến hành đều đặn theo đúng nhịp độ d2 hoặc d3 (không cạo d2 lẫn lộn với d3).

- Cạo hết cây, không bỏ sót cây.

- Thường xuyên làm vệ sinh cho cây cạo, vệ sinh dụng cụ, sửa lại miệng cạo, bôi thuốc mỡ cho các vết cạo phạm, bôi phòng bệnh mặt cạo vào mùa mưa.

- Khi nghỉ cạo tận thu hết mủ tạp, mủ đất, thu máng, thu kiềng, chén úp dưới gốc cây. Quét dọn, gom lá vào giữa hàng cây.

- Tuyệt đối không đốt lá khô trong vườn cao su.

VI. KÍCH THÍCH MỦ

Ngày nay, việc sử dụng chất kích thích ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Qua nhiều năm sử dụng chất kích thích cho thấy cây không bị ảnh hưởng đến năng suất nếu sử dụng đúng theo khuyến cáo như sau:

Chỉ sử dụng chất kích thích cho vườn cây cạo d3, d4 và vườn cây chuẩn bị thanh lý tái canh. Không sử dụng chất kích thích cho vườn cây cạo d1 hoặc d2.

1. Loại chất kích thích và nồng độ sử dụng

Loại hóa chất kích thích mủ được sử dụng có hoạt chất là ethephon (acid 2- chloroethyl phosphonic).

Nồng độ hoạt chất sử dụng là 2,5% a.i cho cây nhóm I và II; 5% a.i. cho các vườn cây nhóm III và vườn cây cạo tận thu trước khi thanh lý.

2. Thời vụ áp dụng kích thích mủ, thời điểm bôi:

Ở Đông Nam bộ và Tây Nguyên, bôi chất kích thích vào các tháng 5, 6, 7, 10, 11 và 12. Bôi chất kích thích trước nhát cạo kế tiếp 24 giờ – 48 giờ. Không bôi khi cây còn ướt hoặc lúc trời sắp mưa. Tuyệt đối không được bôi trong mùa khô, mùa rụng lá.

3. Phương pháp bôi chất kích thích mủ:

Bôi trên vỏ tái sinh (Pa: Panel application): Sau khi khuấy đều chất kích thích, dùng cọ nhỏ bôi một băng rộng 1 cm, mỏng đều trên vỏ tái sinh tiếp giáp với miệng cạo. Phương pháp này áp dụng cho miệng cạo ngửa.

Phương pháp bôi trên miệng cạo không bóc lớp mủ dây (La: Lace application): Sau khi khuấy đều chất kích thích, dùng cọ nhỏ bôi một lớp mỏng đều ngay trên miệng cạo. Phương pháp này áp dụng cho miệng cạo úp.

Kỹ thuật thu hoạch mủ cao su

Phương pháp bôi chất kích thích mủ

4. Dụng cụ bôi chất kích thích

1 cọ bôi số 8 có bề rộng 0,8 cm.

1 hộp đựng chất kích thích có ghi rõ nồng độ.

5. Liều lượng sử dụng, nhịp độ bôi chất kích thích

Cây có tuổi cạo từ 1 – 5, bôi từ 0,5 – 1 gam/cây/lần theo phương pháp Pa.

Cây có tuổi cạo từ 6 – 10, bôi từ 0,75 – 1,5 gam/cây/lần theo phương pháp Pa. Cây có tuổi cạo trên 10, bôi từ 1 – 2 gam/cây/lần theo phương pháp Pa; từ 0,75– 2 gam/cây/lần theo phương pháp La.

Khoảng cách giữa 2 lần bôi ít nhất là 3 tuần.

6. Tiêu chuẩn cây được sử dụng chất kích thích

Bôi chất kích thích cho những cây sinh trưởng bình thường, kỹ thuật cạo tốt. Không bôi chất kích thích cho những cây bị bệnh nấm hồng gây cụt ngọn, cây bị bệnh loét sọc miệng cạo nặng, cây đã rụng hết lá do bệnh rụng lá mùa mưa, cây có dấu hiệu khô miệng cạo hoặc những cây quá nhỏ.

7. Tiêu chuẩn vườn cây sử dụng chất kích thích mủ

Nếu hàm lượng cao su khô (DRC) của vườn cây dưới 25% thì không sử dụng chất kích thích.

Nếu tỷ lệ cây khô miệng cạo toàn phần cao hơn lần kiểm kê trước đó theo mức quy định sau thì không nên bôi chất kích thích: Năm cạo 1 – 10: > 3 % Năm cạo 10 –20: > 10 %.

8. An toàn lao động khi sử dụng chất kích thích

Tránh để chất kích thích dính trên da, mắt. Trong trường hợp bị dính chất kích thích vào da phải rửa ngay bằng xà phòng và nước ấm. Nếu bị dính chất kích thích vào mắt phải rửa mắt ngay nhiều lần bằng nước sạch.

Sau khi sử dụng phải hủy bỏ bao bì đựng chất kích thích, không sử dụng lại.

Khi bôi chất kích thích cho miệng cạo cao, phải mang kính phòng hộ để tránh thuốc rơi vào mắt.

9. Bảo quản chất kích thích khi chưa sử dụng

Chất kích thích phải luôn được giữ trong mát, tránh ánh nắng trực tiếp. Tuân thủ theo hạn sử dụng ghi trên bao bì.

VII. KỸ THUẬT CẠO DAO KÉO TRÊN MIỆNG CẠO NGỬA

1. Cầm dao và tư thế đứng

- Tay phải cầm cán dao và cung cấp lực chính để kéo dao cạo. Khi nâng cán dao lên hoặc hạ cán dao xuống sẽ điều chỉnh mức độ dầy dăm cạo. Áp cán dao vào thân cây hoặc dang ra khỏi thân cây sẽ điều chỉnh độ sâu cạo mủ.

- Tay trái cầm sóng dao để giữ thăng bằng.

- Tư thế đứng: Hai bàn chân hơi dạng ra một góc 900 là tốt để trọng lượng phân bố đều trên hai chân.

2. Lấy vuông hậu

Đặt dao trên miệng cách ranh hậu khoảng 2 – 3 cm, đẩy ngược dao lên phía trên đến ranh hậu. Tay phải hạ cán dao xuống để lấy vuông hậu.

3. Cạo nhát chuẩn

Sau khi lấy vuông hậu xong, cạo một nhát chuẩn dài 4 – 5 cm để định đúng vị trí dao bảo đảm độ hao dăm và độ sâu cạo mủ.

4. Thao tác cạo và di chuyển

Đó là sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân.

- Khi cạo mủ cần kéo dao dứt khoát làm đứt ngọt lớp dăm cạo. Áp má dao sát vào vỏ tái sinh bên trên để tạo lòng máng trên miệng cạo.

- Hai chân đứng ở vị trí miệng hậu, chân trái phía trước. Khi cạo dần dần chuyển trọng tâm về chân phải, sau đó chân trái bước lui vòng theo đằng sau gót chân phải. Lúc này trọng tâm đặt ở chân trái, tiếp theo bước chân phải và trở lại tư thế ban đầu. Bước chân liên tục theo tư thế trên đến khi cạo xong miệng cạo.

5. Thu dao

Khi cạo tới miệng tiền, tay trái hơi ấn sâu vào, đồng thời tay phải vừa áp cán dao vào thân cây vừa nâng ngược dao lên để tạo mang cá (vuông tiền).

Lưu ý:

- Dao phải luôn luôn được mài bén.

- Khi cạo xong liếc ngay dao, rửa sạch và bọc bằng nắp chụp dao.

VIII. KỸ THUẬT CẠO MIỆNG ÚP

1. Thao tác cầm dao và tư thế đứng

- Tay phải cầm phía dưới cán dao, dùng để điều chỉnh độ hao dăm, độ sâu vết cắt và cung cấp lực chính để đẩy.

- Tay trái để ngửa cầm phía trên cán dao để điều chỉnh thăng bằng.

- Vị trí của 2 tay trên cán dao tùy thuộc vào độ cao miệng cạo và lưu ý tránh nâng khuỷu tay phải quá cao dễ gây mỏi tay và vai.

- Khi bắt đầu cạo, đứng trước miệng tiền, trọng lượng phân bổ đều trên hai chân, hai bàn chân cách nhau khoảng 25 – 30 cm, góc giữa 2 bàn chân ≈ 900, chân trái đặt hơi chếch về phía thân cây.

2. Lấy vuông tiền

Đặt mũi dao ngay miệng tiền, lưỡi dao song song với đường miệng cạo, nhấc nhẹ tay phải lên, khẽ nhấn mũi dao vào vỏ để bấm vuông tiền.

3. Thao tác cạo và di chuyển

- Sau khi bấm vuông tiền, hạ cánh tay phải xuống để lưỡi dao trở lại song song với đường miệng cạo. Điều chỉnh cánh tay phải để cắt một lớp dăm đúng độ dày quy định (1,5 – 2,0 mm).

- Đẩy lưỡi dao dần từ dưới lên để cắt vỏ cạo.

- Trong khi cạo, má dao hướng dẫn phải hơi nghiêng tạo thành một góc khoảng 100 với mặt vỏ tái sinh, sống dao phải luôn tựa vào đáy lòng máng để duy trì độ sâu và độ dày dăm. Để đạt được điều này, chân cần phải di chuyển nhịp nhàng với tay cạo để thân người lúc nào cũng ngang với mũi dao.

- Trước tiên trọng tâm dồn trên hai chân, sau đó theo sự di chuyển của mũi dao, trọng tâm từ từ chuyển sang chân trái. Để di chuyển thân người, bước chéo chân phải về phía sau chân trái, từ từ dồn trọng tâm từ chân trái sang chân phải. Khi trọng tâm hoàn toàn dồn trên chân phải, bước chân trái sang ngang vừa tầm như tư thế bắt đầu cạo. Cứ như thế di chuyển cho đến khi mũi dao đạt đến miệng hậu. Khi di chuyển luôn giữ đều khoảng cách giữa người và thân cây.

- Trong trường hợp miệng cạo còn thấp, hơi khuỵu gối, hạ thấp thân người, mắt luôn nhìn phía trong lòng máng để kiểm soát đường cạo.

4. Thu dao (lấy vuông hậu)

Khi mũi dao đến miệng hậu, hơi nâng tay phải lên và lắc dao ra phía ngoài để lấy vuông hậu.

Th. S. Đỗ Kim Thành,
Trưởng bộ môn, Sinh lý Khai thác, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam ĐT: 0917 566 740
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. '; document.write( '' ); document.write( addy_text84407 ); document.write( '<\/a>' ); //--> Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Hiệu quả từ phương pháp chế biến mủ tờ bằng công nghệ cưa lạng

Ảnh minh họa.Những năm gần đây, mủ tờ RSS có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường tiêu thụ, nhất là vào đầu năm nay, giá mủ RSS có thời điểm cao hơn hẳn so với mủ cốm. Mủ tờ có chất lượng cao, một phần nhờ vào công nghệ cưa lạng (Sliding Cutting Technology).

Nhược điểm của các công nghệ chế biến mủ tờ trước đây

Sản xuất mủ tờ RSS có nhiều công nghệ khác nhau, trước đây chủ yếu là công nghệ của người Pháp như: công nghệ tấm lak rời, công nghệ tấm lak liên kết (xưởng chế biến thuộc Liên hiệp Công đoàn Cao su tại xã Xuân Bảo, huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai), công nghệ lạng – Mulô (hiện đại nhất của thập kỷ 70, ngày nay còn một dây chuyền hoạt động tại Công ty TNHH MTV Cao su Lộc Ninh). Một trong những nhược điểm lớn nhất của mủ tờ RSS là chi phí nhân công cao, ngoài ra, do đặc điểm của công nghệ tấm lak, quá trình tạo tờ không đồng đều, làm sản phẩm không ổn định, chi phí năng lượng cao.

Hiện nay trong VRG có 5 nhà máy và 2 xưởng chế biến mủ tờ với công suất chế biến khoảng 10.000 tấn/năm. Trong đó, có một nhà máy chế biến mủ tờ áp dụng công nghệ cưa lạng với quy mô 3.000 tấn/năm (Nhà máy Chế biến Suối Kè – Công ty TNHH MTV Cao su Bình Thuận). Qua quá trình chế biến, đã thể hiện những ưu điểm nổi trội so với công nghệ lạng – Mulô và công nghệ tấm lak rời, tấm lak liên kết.

Công nghệ tấm lak rời: Tạo tờ không ổn định, chi phí đầu tư trung bình, nhiều công lao động, chi phí năng lượng cao, thiết bị đơn giản; phù hợp với công suất nhỏ (dưới 1.000 tấn/năm); khả năng vượt tải kém; phù hợp với cao su tiểu điền.

Công nghệ tấm lak liên kết: Tạo tờ không đồng đều, chi phí đầu tư cao, nhiều công lao động (tách dây mủ ra khỏi dàn tấm lak mất nhiều công và thời gian), chi phí năng lượng cao, thiết bị phức tạp, rườm rà, chi phí sửa chữa lớn (do tấm lak hay bị cong vênh, nhiều thiết bị); phù hợp với công suất trên 1.500 tấn/năm; khả năng vượt tải kém (non tải 26,6%).

Công nghệ lạng – Mulô: Tạo tờ mủ đồng đều, nhưng thao tác nặng nề, tốn nhiều công lao động, chi phí đầu tư lớn, thiết bị máy lạng phức tạp, chất lượng đồng đều, ổn định; phù hợp với công suất trên 1.000 tấn/năm.

Hiệu quả cao với công nghệ cưa lạng

Sản xuất mủ tờ theo công nghệ cưa lạng có thể khắc phục những nhược điểm của 3 công nghệ nêu trên. Từ công đoạn đánh đông được thiết kế có tính đồng bộ, tạo ra sự đồng dạng cao về chất lượng khi cao su đông tụ; công đoạn nạp nguyên liệu cho máy lạng cũng được giảm nhẹ nhờ sự hỗ trợ của thiết bị. Quan trọng nhất là tạo tờ bằng máy cưa lạng, rất đơn giản, nhẹ nhàng; tạo ra các tờ mủ có chiều dày đồng đều (máy cưa lạng được định vị mỗi lần cắt tờ mủ dày 2 li), yếu tố này giúp giảm chi phí chất đốt khoảng 20% cho 1 tấn sản phẩm. Chất lượng sản phẩm đồng đều và khả năng vượt tải cao (trên 23% so với công suất thiết kế); trong khi công lao động giảm từ 2 - 2,5 công so với công nghệ trước đây.

Một đặc điểm rất độc đáo của công nghệ cưa lạng là công suất thiết kế phù hợp với nhiều mức công suất từ 500 - 5.000 tấn/năm, do đó phù hợp với nhiều mô hình sản xuất từ tiểu điền cho đến đại điền. Với điều kiện và phương pháp chế biến đặc trưng của máy cưa lạng, mủ tờ ít bị băm nên cường lực kéo đứt rất cao, ít bị lão hóa, thích hợp cho các sản phẩm đòi hỏi tính kháng đứt cao, kháng mòn, cũng như độ cứng cao.

Ông Nguyễn Hoàng Thái – Phó Ban Công nghiệp VRG, nhận xét: “Những ưu điểm và lợi ích khi sản xuất mủ tờ RSS bằng công nghệ cưa lạng, đã mang lại một chỗ đứng vững chắc và khả năng cạnh tranh với sản phẩm cao su chế biến từ mủ nước như mủ cốm SVR 3L, vì chi phí đầu tư và chi phí chế biến thấp hơn, trong khi thị trường hiện nay, mủ tờ RSS có giá bằng, đôi khi cao hơn SVR 3L”. 

Qui trình sản xuất mủ tờ theo công nghệ cưa lạng đơn giản hơn những công nghệ trước đây rất nhiều: Mủ được đưa vào mương, tạo đông bằng dung dịch axit formic nồng độ 2%, pH đánh đông khoảng 5.2, sau 8 tiếng có thể sản xuất được. Dùng tấm lak định vị trong mương thành khối vuông và đưa vào máy cưa lạng. Máy cưa lạng được định vị mỗi lần cắt tờ mủ dày 2 li; sau đó được cán tạo tờ qua máy cán 5 cặp trục; tiếp theo, tờ mủ được phơi lên sào tre, để ráo 1 đến 2 ngày (sơ sấy), sau đó cho vào lò xông sấy ở nhiệt độ 50 - 600C.

 Ngọc Cẩm (caosuvietnam.net)

Phân chuyên dùng Đầu trâu cho cao su kinh doanh

Ảnh minh họa.Năng suất mủ cao su phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, điều kiện sinh thái nơi trồng, kỹ thuật chăm sóc và đặc biệt là hàm lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng cung cấp theo yêu cầu sinh trưởng, phát triển của giống.

Hiện nay giá cao su cao nên xu hướng đầu tư cho thâm canh cao su cũng tăng. Người ta nghĩ rằng cứ bón phân nhiều thì năng suất mủ cao, nhưng nhiều kết quả nghiên cứu ở nước ngoài và cả trong nước cho thấy không hoàn toàn như vậy. 

Trong điều kiện cụ thể của từng vùng thì việc cung cấp phân bón cần phải căn cứ vào chất đất và thời kỳ sinh trưởng của cây.

Nhiều công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn sản xuất cho thấy năng suất mủ cao su phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực sinh trưởng của cây ở thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB). Thời kỳ này dao động từ 6-8 năm đầu. Chính vì vậy, ngoài việc xác định mật độ thích hợp và kỹ thuật trồng thì việc bón phân cho cao su ở thời kỳ này cần được quan tâm đúng mức.  

Những tài liệu công bố kết quả nghiên cứu bón phân cho cao su ở thời kỳ KTCB cho thấy rằng, đạm (N), lân (P) và kali (K) là 3 yếu tố cây cần nhiều hơn cả, trong đó N và P cây cần nhiều nhất để đâm cành, ra lá, phát triển bộ rễ và vanh thân. Cũng có người hỏi như vậy liệu ở thời kỳ KTCB, cao su không cần các chất trung và vi lượng như những loại cây trồng khác? Xin được trả lời rằng trong thời kỳ KTCB, cao su vẫn cần các chất trung và vi lượng như các loại cây trồng khác, đặc biệt khi cao su được trồng trên loại đất xám bạc màu hay đất có độ dốc cao, đất thường bị xói mòn.  

May thay cao su có bộ rễ ăn sâu vào đất sớm, nên cây có khả năng tìm kiếm đủ để sử dụng cho nhu cầu sinh trưởng của cây trong giai đoạn cây chưa phải lâm vào thời gian cực trọng đối với các chất này. Dẫu vậy, để bảo đảm an toàn cho quá trình sinh trưởng của cao su, việc sử dụng loại phân bón có kèm theo trung và vi lượng vẫn được khuyến khích. Trong số các chất trung lượng thì Manhê (Mg), Canxi (Ca) và Lưu huỳnh (S) cây cần được cung cấp cũng rất khác nhau, phụ thuộc vào hàm lượng các chất này có sẵn trong đất và đặc tính của giống.  

Ví dụ, một nghiên cứu ở nước ngoài về hiệu lực của Mg bón cho cao su KTCB đã chứng minh rằng chỉ có giống cao su RRIC103 được bón liều 11-22g Mg/cây mới làm tăng chất khô, còn các giống cao su khác như PB86, RRIC 100 và RRIC 121 thì không thấy có thay đổi cả trọng lượng tươi và cả chất khô ở mức đáng tin cậy. Chính vì vậy trong thời kỳ KTCB dù bạn bón loại phân gì cũng cần ưu tiên cung cấp đầy đủ và cân đối các chất đa lượng. Dựa trên các kết quả nghiên cứu trong nước và nhu cầu cao su ở thời kỳ KTCB, loại phân NPK 20-20-15+ TE Đầu Trâu được coi là có tính thích ứng rộng cho cao su trên nhiều vùng, và được khuyến cáo sử dụng theo các năm tuổi dưới đây: 

Năm thứ 1: bón từ 150-200 kg/ha, tương đương với: 30-40N+30-40P205+22,5-30K20/ha.

Năm thứ 2: bón từ 200-250 kg/ha, tương đương với: 40-50N+40-50P205+30-37,5K20/ha.

Năm thứ 3: bón từ 250-300 kg/ha, tương đương với: 50-60N+50-60P205+37,5-45K20/ha.

Năm thứ 4: bón từ 350-400 kg/ha, tương đương với: 70-80N+70-80P205+52,5-60K20/ha.

Năm thứ 5: bón từ 450-500 kg/ha, tương đương với: 90-100N+90-100P205+67,5-75K20/ha.

Năm thứ 6: bón từ 550-600kg/ha, tương đương: 110-120N+110-120P205+82,5-90K20.

Trên đất đỏ chọn mức thấp, trên đất xám bạc màu và các loại đất khác chọn mức cao nhất. Đồng thời tùy theo tình trạng cây có thể điều chỉnh mức phân cho phù hợp. Bón các mức phân này sẽ tạo điều kiện cho vanh thân phát triển tối đa để chuyển vào khai thác được thuận lợi.        

Khi chuyển sang thời kỳ khai thác (TKKT), việc bón phân cho cao su cần dựa vào lượng dinh dưỡng bị mất đi qua sản lượng mủ đã thu, lượng dinh dưỡng mất đi do bị rửa trôi và bị cố định trong đất. Đồng thời cũng tính đến lượng sinh khối do lá cao su rụng xuống đất. Theo tính toán khoa học, trung bình 30 năm khai thác, sản lượng mủ khô trung bình đạt 1.553kg/ha thì mỗi năm vườn cao su cũng nhận được 3.466 kg lá khô/ha. Lượng sinh khối này lần lượt được phân giải để trả lại cho đất chất hữu cơ, mùn và các loại khoáng mà cây đã lấy trong suốt đời sống của lá. 

Các kết quả nghiên cứu cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho thấy trong khoảng vài năm đầu của chu kỳ khai thác, lượng phân tồn dư ở thời kỳ KTCB có ảnh hưởng lớn đến sản lượng mủ. Vì vậy nếu thời kỳ KTCB được bón phân và chăm sóc cẩn thận thì vài năm đầu của TKKT nhu cầu phân bón không đòi hỏi khắt khe như các năm về sau. Thực tiễn cho thấy trong TKKT, lượng phân bón và tỷ lệ bón có sự khác biệt với thời kỳ KTKB. Theo Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN, lượng phân bón trung bình nhiều vùng là 80N+60P205+80K20/ha. Theo kết quả nghiên cứu của Tống Viết Thịnh (2007), cao su khai thác từ 2-6 năm tuổi, lượng phân bón khuyến cáo là 87N-30P205-93K20 và từ 6-10 năm là 88N-30P205-80K20. Dựa trên các kết quả nghiên cứu này, đồng thời dựa vào kết quả điều tra, đánh giá trong sản xuất, Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền đã sản xuất loại phân bón cho cao su thời kỳ khai thác hiệu Đầu Trâu NPK cao su 16-6-18 có chứa các chất trung và vi lượng cần thiết, phân dạng bột, dễ tan, tiện lợi khi bón thúc, chia ra bón 3 đợt: đợt 1/đầu mùa mưa; đợt 2/giữa mùa mưa và đợt 3/cuối mùa mưa. Lượng bón và thời kỳ bón được tóm tắt trong bảng sau: 

Đất đỏ bazal, đất đen
Liều bón 450-600kg/ha
Đất xám bạc màu và đất khác
Liều bón 500-700 kg/ha
1/Đầu mùa mưa: 200-250kg
1/đầu mùa mưa:  250-300kg
2/Giữa mùa mưa: 100-150kg
2/Giữa mùa mưa: 100-150kg
3/Cuối mùa mưa: 150-200kg
3/Cuối mùa mưa: 150-250 kg

Liều lượng khuyến cáo trên có thể được điều chỉnh tùy tình trạng thực tế từng vườn cao su. Nhưng áp dụng lượng phân này sẽ rất thuận lợi về công bón, chỉ có 1 loại phân nhưng cân đối về tỷ lệ dinh dưỡng cho cao su khai thác để có năng suất và hiệu quả kinh tế tối ưu.

GS.TS. Mai Văn Quyền 
Nguồn: nongnghiep.vn

Các loại giống cao su

Ảnh minh họa.Giống GT1

GT1 Là dòng vô tính được tuyển chọn tại Indonesia và được trồng nhiều nơi trên thế giới từ những năm 1960 - 1980. GT1 được trồng qui mô rộng ở Việt Nam từ 1981. Ở Đông Nam Bộ, sinh trưởng và sản lượng của GT1 từ kém đến trung bình.

Trong điều kiện bất thuận của cao trình trên 600 m hoặc miền Trung, GT1 sinh trưởng và sản lượng khá. Nâng suất của GT1 khởi đầu thấp, sau đó ổn định từ 1 - 1,4 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,1 - 1,2 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên cao dưới 600 m trong 120 năm khai thác đầu. GT1 tăng trưởng khi cạo trung bình, ít nhiễm bệnh loét sọc mặt cạo, nhiễm trung bình bệnh nấm hồng và rụng lá mùa mưa,tương đối dễ nhiễm bệnh lá phấn trắng, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ và chịu được cường độ cạo cao, ít khô mủ, kháng gió khá. 

GT1 không còn được khuyến cáo ở Malaysia do hiệu quả kinh tế kém hơn nhiều giống khác nhưng vẫn còn được khuyến cáo ở một số nước khác: Ấn Độ, Indonesia, Côte D''Ivoire, Cambodia.  

GT1 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và qui mô lớn cho vùng Tây Nguyên 600 - 700 m, miền Trung.

Giống LH82/156 (RRIV 2):

LH82/156 (RRIV 2) Là dòng vô tính do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha RRIC 117, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/156 nổi bật về sinh trưởng trong thời gian kiến thiết cơ bản và tăng trưởng khi cạo, vượt hơn PB 235 khoảng 15%, sản lượng những năm đầu thấp hơn PB 235, sau đó tăng dần, năng suất 5 năm đạt 1.340 kg/ha/năm (88% PB 235), đáp ứng với kích thích mủ khá tốt, nhiễm trung bình bệnh lá phấn trắng, dễ nhiễm bệnh nấm hồng. LH82/156 có thân chính chiếm ưu thế, tạo tiềm năng trữ lượng gỗ hữu dụng cao. Trữ lượng gỗ của LH82/156 vào năm 14 tuổi là 0,57 m3/cây (132% PB235).  LH82/156 được xem là giống cao su gỗ-mủ, được khuyến cáo qui mô lớn ở vùng thuận lợi và qui mô vừa ở vùng ít thuận lợi.

Giống LH82/158 (RRIV 3):

LH82/158 (RRIV 3) Tương tự như LH82/156, dòng vô tính LH82/158 do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha RRIC 117, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/158 sinh trưởng và sản lượng tương đương hoặc vượt hơn PB 235, năng suất 5 năm đầu ở Đông Nam Bộ đạt 1.500 kg/ha/năm (99% PB 235), tăng trưởng khi cạo khá, nhiễm nhẹ bệnh nấm hồng và rụng lá mùa mưa, nhiễm trung bình bệnh loét sọc mặt cạo và bệnh phấn trắng.

LH82/158 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và miền Trung. 

Giống LH82/182 (RRIV 4): 

LH82/182 (RRIV 4) Là dòng vô tính do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha PB 235, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/182 sinh trưởng khoẻ trong thời gian kiến thiết cơ bản, vượt PB235 trong nhiều thí nghiệm. Tuy nhiên, tăng trưởng khi cạo kém, sản lượng hơn hẳn PB 235 từ 20 - 60% và cao nhất trong các giống lai đợt 1982. Năng suất 5 năm đầu ở Đông Nam Bộ đạt 2.160 kg/ha/năm (142% PB 235). LH82/182 nhiễm nhẹ bệnh loét sọc mặt cạo, nhiễm trung bình bệnh rụng lá mùa mưa và nấm hồng, tương đối dễ nhiễm bệnh lá phấn trắng.

LH82/182 được khuyến cáo qui mô lớn ở vùng thuận lợi và qui mô vừa ở vùng ít thuận lợi, không nên trồng ở vùng có gió mạnh. 

Giống PB255: 

PB255 Là dòng vô tính  được tạo tuyển  ở Malaysia từ tổ hợp lai PB 5/51 x PB 32/36, nhập vào Việt Nam năm 1978, được khuyến cáo trồng qui mô vừa từ năm 1991. PB 255 sinh trưởng trung bình đến khá trong thời gian kiến thiết cơ bản, năng suất cao,  đạt 1,6 - 2,0 tấn/ha/năm  ở  Đông Nam Bộ và  đạt 1,1 - 1,2 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên cao dưới 600 m trong 10 năm đầu khai thác. Ở Quảng Bình, PB 255 sinh trưởng và có sản lượng cao hơn GT1 và PB 235,  đạt 1.075 kg/ha/năm trong 4 năm đầu khai thác. PB 255 tăng trưởng khi cạo khá, vỏ nguyên sinh khá dày, nhiễm bệnh phấn trắng và rụng lá mùa mưa trung bình, dễ nhiễm bệnh loét sọc mặt cạo và nấm hồng, dễ khô mủ, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ.

Có thể trồng PB 255 ở nhiều vùng cao su. Là giống kháng gió khá, PB 255 còn được khuyến cáo cho những vùng gió mạnh. 

Giống PB 260: 

PB 260 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Malaysia từ tổ hợp lai PB 5/51 x PB 49, kháng gió khá tại Malaysia nhưng kém ở Côte D''''Ivoire, được khuyến cáo trồng diện rộng trên nhiều nước. PB 260  được nhập vào Việt Nam năm 1978,  được khuyến cáo trồng quy mô vừa từ 1994 và được sản xuất rộng từ 1997. PB 260 sinh trưởng trung bình ở Đông Nam Bộ chỉ tương đuơng với GT1, nhưng năng suất cao hơn, trung bình 5 năm đạt 1,1 - 1,7 tấn/ha/năm. Ở Tây Nguyên cao 600 - 700 m, PB 260 sinh trưởng khá và sản lượng vượt hơn GT1, PB 235. Giống này tăng trưởng khi cạo trung bình, nhiễm nhẹ bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, nhiễm nhẹ  đến trung bình bệnh phấn trắng và loét sọc mặt cạo, dễ khô mủ, phản ứng mạnh khi cạo phạm, xuất hiện các bướu trên vỏ tái sinh.

PB 260 được khuyến cáo các qui mô lớn ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, qui mô vừa ở miền Trung, nên tránh vùng có gió mạnh. 

Giống RRIC 100: 

RRIC 100 Là dòng vô tính đựoc tạo tuyển ở Sri Lanka, từ tổ hợp lai RRIC 52 x PB 86, được trồng diện rộng ở Sri Lanka. Ở Malaysia, RRIC 100 được ghi nhận là giống cao sản, sinh trưởng khoẻ, chống chịu gió tốt, nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng. Trong các thí nghiệm tại Đông Nam Bộ, RRIC 100 sinh trưởng và sản lượng khá hơn GT 1, đạt năng suất 5 năm đầu từ 1,1 - 1,3 tấn/ha/năm. Ở Tây Nguyên, RRIC 100 tăng trưởng tốt và sản lượng cao hơn GT 1 (119% ở GT 1).

RRIC 100 được khuyến cáo qui mô vừa ở Tây Nguyên cao 600 - 700 m và miền Trung. 

Giống RRIC 121: 

RRIC 121 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Sri Lanka (PB 28/59 x IAN 873), sinh trưởng khoẻ và cao sản, được khuyến cáo ở bảng 1 tại Sri Lanka. RRIC 121 được nhập vào Việt Nam năm 1977, được sản xuất rộng từ 1997. Giống này sinh trưởng khá trong thời gian kiến thiết cơ bản, sản lượng khởi đầu thấp, sau tăng dần. Ở Đông Nam Bộ, RRIC 121  đạt năng suất thấp hơn PB 235 (80 - 85% PB 235) nhưng cao hơn ở Tây Nguyên. RRIC 121 ít nhiễm bệnh loét sọc mặt cao, nhiễm nấm hồng và rụng lá mùa mưa trung bình, dễ nhiễm phấn trắng. Ít khô mủ, kháng gió trung bình, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ, tăng trưởng tốt trong khi cạo và có trữ lượng gỗ cao.

RRIC 121 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và miền Trung, tránh vùng phấn trắng nặng ở Tây Nguyên 600 - 700 m. 

Giống RRIM 600: 

RRIM 600 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Malaysia, từ tổ hợp lai TJ1 x PB 86, được khuyến cáo qui mô rộng tại Malaysia, Thái Lan, nhập vào Việt Nam trước 1975, được khuyến cáo bảng 1 từ 1981. RRIM 600 sinh trưởng trung bình và tăng trưởng khá khi cạo mủ. Năng suất RRIM 600 thường cao hơn GT 1, đạt 1,4 - 1,6 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,1 - 1,4 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên dưới 600 m trong 10 năm khai thác đầu tiên. Trên Tây Nguyên cao 600 - 700 m, RRIM 600 đạt năng suất 1 tấn/ha/năm, khá hơn GT 1 và PB 235 (114% GT 1). Ở Quảng Trị, RRIM 600 đạt năng suất tương đương PB 235 trong 4 năm đầu: 1.420 kg/ha/năm (151 % GT 1).

RRIM 600 nhiễm phấn trắng nhẹ, mẫn cảm với bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, loét sọc mặt cạo, khô mủ trung bình, đáp ứng kích thích khá.  RRIM 600 tuy dễ gãy cành do gió mạnh, nhưng mức thiệt hại không lớn và phục hồi nhanh. RRIM 600 cũng dễ nhiễm bệnh nấm hồng nhưng loại bệnh này có thể phòng trị được. Do năng suất ổn định, RRIM 600 được khuyến cáo trồng qui mô vừa ở vùng thuận lợi (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên dưới 600 m) và qui mô lớn ở các vùng ít thuận lợi (Tây Nguyên 600 - 700 m và miền Trung). 

Giống RRIM 712: 

RRIM 712 Là dòng vô tính tạo tuyển từ Malaysia (RRIM 605 x RRIM 71),  được khuyến cáo cho vùng gió mạnh  ở Malaysia từ 1983. RRIM 712 nhập vào Việt Nam từ 1978, được sản xuất rộng từ 1997, sinh trưởng trung bình ở Đông Nam Bộ, nhưng khá đến tốt ở Tây Nguyên và miền Trung, sản lượng cao hơn GT 1 ở Đông Nam Bộ và hơn PB 235 ở Tây Nguyên, tương đương PB 235 và hơn GT 1 ở miền Trung. RRIM 712 tăng trưởng khi cạo kém, nhiễm trung bình bệnh loét sọc mặt cạo, nấm hồng, phấn trắng, rụng lá mùa mưa, ít khô mủ, kháng gió tốt.

RRIM 712 được khuyến cáo trồng qui mô vừa cho vùng cao su miền Trung có gió mạnh. 

Giống VM 515: 

VM 515 Là dòng vô tính nhập từ Malaysia năm 1978, chưa rõ phả hệ. Được khuyến cáo ở bảng 1 tại Việt Nam từ 1991. VM 515 sinh trưởng trên trung bình trong thời gian kiến thiết cơ bản, năng suất cao, có thể đạt 1,5 - 1,9 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,3 - 1,5 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên dưới 600 m trong 10 năm cạo đầu tiên. VM 515 tăng trưởng khi cạo kém, ít nhiễm bệnh nấm hồng và loét sọc mặt cạo, nhưng dễ nhiễm bệnh rụng lá mùa mưa và phấn trắng, dễ khô mủ, đáp ứng với kích thích từ trung bình đến khá.

VM 515 chỉ được khuyến cáo trồng qui mô vừa ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên dưới 600 m, không nên trồng ở vùng bệnh lá nặng hoặc có gió mạnh và không nên mở cạo sớm khi cây chưa đủ tiêu chuẩn về sinh trưởng. 

Caosu.net tổng hợp
Nguồn: nhanong.com.vn

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL