Chuyên trang cao su

Thứ sáu, 24/10/2014

Last update:12:28:03 PM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU

KỸ THUẬT CAO SU

Quy trình kỹ thuật trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo ngập úng (Bản đầy đủ)

Click vào đây để xem chi tiết
Lưu ý: Để xem được file này, máy tính của bạn phải cài chương trình Adobe Reader

argaiv1533

Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam

Quy trình kỹ thuật trồng cao su vùng miền núi phía Bắc (Bản đầy đủ)

Click vào đây để xem chi tiết
Lưu ý: Để xem được file này, máy tính của bạn phải cài chương trình Adobe Reader

Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam

Kỹ thuật chăm sóc cao su trồng mới ở khu vực Tây Bắc: Các loại sâu bệnh chính và cách sử dụng, bảo quản thuốc bảo vệ thực vật

Ảnh minh họa.Bệnh khô ngọn khô cành nguyên nhân chính là do hậu quả của các bệnh phấn trắng, héo đen đầu lá, rụng lá mùa mưa, rét, nắng hạn, sét đánh, thiếu phân bón, úng nước… Bệnh có thể gây chết cây trong vườn nhân, vườn ươm và vườn KTCB.

Bệnh thân, cành, rễ và biện pháp xử lý

Với cây đang thu hoạch mủ, có thể gây chết một phần tán hay toàn bộ cây. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp xử lý thích hợp như bón phân, chống rét, chống hạn. Khi cây, cành bị bệnh thì phải cưa dưới phần bị chết 20 - 25 cm sau đó bôi một lớp mỏng vaselin.

Bệnh nấm hồng do nấm Corticium salmonicolor gây ra, bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, gây chết cành, cụt ngọn, phổ biến trên cây 3 – 8 tuổi. Vết bệnh chỉ xuất hiện trên thân và cành có vỏ đã hóa nâu. Ban đầu vết bệnh có mủ chảy và có tơ nấm dạng “mạng nhện” màu trắng, lúc bệnh nặng nấm chuyển sang màu hồng. Khi cành chết, lá khô không rụng, phía dưới vết bệnh mọc ra nhiều chồi. Xử lý bệnh bằng cách dùng một trong những loại thuốc như validamycine (Validacin 5L, Vanicide 5SL…) nồng độ 1,2%, hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,5%. Các loại thuốc trên cần phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 1%, phun bằng bình phun đeo vai có vòi nối dài với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần. Sau khi phun, phải kiểm tra, đánh dấu cây bệnh để xử lý lại nếu bệnh chưa khỏi. Ngưng cạo mủ những cây bị chết tán và cây bị bệnh nặng. Vào mùa khô, tiến hành cưa cắt cây, cành bị chết và đưa ra bìa lô để đốt

Bệnh nứt vỏ Botryodiploidia do nấm Botryodiplodia theobromae. Bệnh gây chết cây con, làm chậm sinh trưởng vườn cây KTCB, với vườn cây thu hoạch mủ làm hư mặt cạo và giảm sản lượng mủ. Triệu chứng của bệnh (vườn ươm và KTCB), ban đầu xuất hiện tại vị trí mắt ghép, hoặc trên chồi non với vết lõm có màu nâu đen, sau đó lan rộng gây chết khô. Cây KTCB 1 - 2 năm tuổi, trên chồi xuất hiện vết nứt có dạng hình thoi sau đó phát triển theo hướng lên và xuống, tại vết bệnh có mủ rỉ ra, phần vỏ và gỗ bị khô và xốp. Khi vết bệnh lan rộng, tán lá non sẽ khô và héo rũ nhưng không rụng, trên phần vỏ bị chết xuất hiện những đốm có màu nâu đen chứa bào tử. Trên cây vỏ đã hóa nâu (từ năm tuổi 3 - 7), trên vỏ xuất hiện nhiều mụn nhỏ kích thước 1 - 2 mm, sau đó các mụn này lan ra toàn bộ thân cành. Cuối cùng cả thân cành bị nứt và có màu nâu, mủ rỉ ra từ những vết nứt. Để trừ bệnh sử dụng một trong các loại thuốc như carbendazim nồng độ 0,5% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole nồng độ 0,2 - 0,3%. Các loại thuốc trên cần phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 1%. Dùng bình đeo vai có vòi dài phun ướt toàn bộ thân cây 2 - 3 lần với chu kỳ 2 tuần/lần.

Bệnh rễ nâu thường xuất hiện trên cây cao su trồng tại những vùng trước đây là rừng có nhiều cây thân gỗ hay vườn cây tái canh. Biểu hiện của bệnh xuất hiện trên tán lá và rễ: tán lá còi cọc, lá có màu xanh hơi vàng co rút và cụp xuống, nhiều cành nhỏ ở phần dưới tán bị rụng lá. Sau đó, toàn bộ tán lá bị rụng và cây chết. Với rễ, trên rễ bệnh mọc nhiều rễ con chằng chịt, dính lớp đất dày 3 - 4 mm khó rửa sạch. Sau khi rửa sạch, mặt ngoài rễ có màu vàng nâu. Phần gỗ chết có những vân màu nâu đen, dễ bóp nát. Triệu chứng trên rễ là dấu hiệu chính để xác định cây bị nhiễm bệnh. Để xử lý bệnh, khi khai hoang phải dọn sạch rễ trong hố trồng để giảm nguồn lây nhiễm ban đầu. Trên vùng có nguy cơ xuất hiện bệnh, trộn 100 - 150 g bột lưu huỳnh vào hố 5 - 7 ngày trước khi trồng. Với cây bị bệnh và những cây kế cận, dùng thuốc gốc hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,5% pha trong nước tưới quanh gốc trong bán kính 0,5 m với liều lượng 3 - 5 lít/cây và phải xử lý 2 - 3 lần với chu kỳ 2 tháng/lần. Với cây bị bệnh nặng, dùng mỡ Calixin 10% (pha trong hỗn hợp vaselin và dầu hạt cao su) quét lên phần rễ chính. Với các cây bị chết, cưa cách mặt đất 10 - 15 cm sau đó dùng Garlon 250 pha nồng độ 5% trong dầu diesel quét lên vết cắt hoặc đào hết gốc rễ để tiêu hủy nguồn bệnh.

Sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật

Để sử dụng thuốc có hiệu quả phải theo yêu cầu 4 đúng như sau: Đúng thuốc: mỗi thuốc chỉ dùng để phòng trừ cho đối tượng thích hợp. Thuốc trừ nấm bệnh không dùng để diệt sâu, diệt cỏ. Chỉ sử dụng các loại thuốc có trong danh mục do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cho phép. Đúng lúc: đúng giai đoạn phát sinh phát triển của tác nhân gây hại để thuốc có tác dụng diệt đạt hiệu quả cao. Đúng cách: mỗi loại thuốc có cách dùng khác nhau. Phải theo đúng đặc tính của thuốc và sự hướng dẫn trong quy trình. Đúng liều lượng: không tự ý tăng hoặc giảm lượng thuốc vì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý hoặc có tác dụng ngược như gây hại cho người và cây cao su.

Để an toàn khi dùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), không nên ăn, hút thuốc trong khi đang phun thuốc. Cần có trang bị bảo hộ lao động khi pha chế và phun thuốc. Sau khi phun phải thay quần áo và giặt sạch. Thời gian tiếp xúc thuốc tối đa không quá 6 giờ trong ngày. Không sử dụng bình phun bị rò rỉ vì có thể gây ngộ độc. Rửa sạch bình sau khi phun và không đổ xuống ao, hồ hoặc nơi chăn thả gia súc. Không phun ngược chiều gió và tránh để thuốc tiếp xúc với tất cả các bộ phận của cơ thể. Nếu bị dính thuốc cần rửa ngay và rửa nhiều lần bằng nước sạch và xà phòng. Nếu cảm thấy mệt nên nghỉ ngơi và thay người khác. Không sử dụng bao bì đựng thuốc vào bất kỳ mục đích nào khác. Không sử dụng bao bì thực phẩm để đựng thuốc BVTV.

Bảo quản thuốc BVTV bằng cách, các loại thuốc phải xếp riêng theo đối tượng phòng trị và có tên riêng. Trong kho không để thuốc BVTV lẫn với phân bón. Kho chứa thuốc nên xa dân cư, nguồn nước, thực phẩm và gia súc. Kho cần xây dựng vững chắc bằng vật liệu khó cháy, nơi không bị ngập úng. Kho phải có các phương tiện chữa cháy, phòng độc và cấp cứu.

Khi bị nhiễm thuốc BVTV cần làm ngay các bước: Nhanh chóng chuyển nạn nhân ra khỏi vùng nhiễm thuốc. Nếu nạn nhân không còn thở, cần tiến hành hô hấp nhân tạo. Thay quần áo nhiễm thuốc, lau rửa cơ thể nạn nhân bằng xà phòng và nước sạch. Tránh gây vết thương trên da vì sẽ làm thuốc xâm nhập vào cơ thể nạn nhân nhanh hơn. Nếu mắt bị dính thuốc, phải rửa nhiều lần bằng nước sạch, ít nhất trong 15 phút.

P.Thắng (caosuvietnam.net)
(Theo tài liệu Viện NCCS VN)

Kỹ thuật chăm sóc cao su trồng mới, KTCB và phòng trừ sâu bệnh cao su vùng núi phía Bắc

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán.

Chăm sóc cao su trồng mới và KTCB

Đối với cao su trồng mới, sau khi trồng, phải làm sạch cỏ theo bồn kết hợp tạo đường đồng mức, không kéo đất ra khỏi gốc cao su và làm cỏ 3 lần/năm. Ngoài ra, thường xuyên tỉa chồi thực sinh nhằm giúp tược ghép phát triển tốt. Còn với cao su KTCB, từ năm thứ hai trở đi, làm cỏ theo băng kết hợp hoàn thiện đường đồng mức. Làm cỏ 3 lần/năm, từ năm thứ sáu trở đi làm cỏ 2 lần/năm, ưu tiên trừ cỏ bằng thuốc diệt cỏ. Giữa hàng cao su tuyệt đối không cày ở vùng đất có độ dốc bình quân hơn 10O. Trên đất bằng chỉ cày giữa hàng khi cần làm đất trồng xen hoặc thiết lập thảm phủ, khoảng cách đường cày đến hàng cao su tối thiểu là 1,5 m.

Trong giai đoạn KTCB phải tủ gốc cho cây bằng vật liệu thực vật hoặc màng phủ nông nghiệp (PE), trước khi tủ gốc phải xới phá váng lớp đất mặt quanh gốc. Từ năm thứ hai đào hố đa năng trên hàng cao su, số lượng hố bằng một nửa số cây trồng. Hố đa năng có kích thước dài 80 cm, rộng 40 cm và sâu 30 cm. Bố trí hố đào trên hàng sát taluy dương giữa hai cây cao su, cách hai cây đào một hố. Thường xuyên bổ sung cỏ vào hố sau mỗi lần chăm sóc. Hố được dùng làm điểm bón phân từ năm thứ ba đến năm thứ tư đối với đất dốc 10O và làm điểm bón phân từ năm thứ ba cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ đối với đất dốc >10O. Từ năm thứ tư, với đất có độ dốc bình quân 10O, hố đa năng được đào giữa hai hàng cao su theo dạng nanh sấu, đối với đất dốc bình quân >10O, duy trì các hố đã đào từ năm thứ hai cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ. Cao su trong thời kỳ KTCB phải được bón phân vô cơ và hữu cơ, tất cả các loại phân bón phải được kiểm định chất lượng theo quy định của VRG. Phân vô cơ, bón từ 2 – 3 lần/năm, bón khi đất đủ ẩm, không bón phân vào thời điểm có mưa lớn, mưa tập trung. Từ năm thứ 2 đến năm thứ 3, phân hữu cơ được bón vào hố dọc hai bên hàng cao su theo hình chiếu của tán lá, lượng phân 1 - 2 kg/cây/năm, bón một lần vào đầu mùa mưa. Từ năm thứ 4 trở đi, phân được bón vào hố đa năng.

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán. Mỗi vị trí phân cành trên thân chính chỉ giữ lại một cành. Đối với những cây phát triển quá chậm, thân bị tổn thương, cong vẹo, có thể lưu lại cành từ độ cao 2 m. Hàng năm vào đầu mùa khô tiến hành phòng chống cháy cho lô cao su. 

Các loại sâu bệnh và biện pháp xử lý

Cây cao su có thể bị bệnh trên các bộ phận như lá, cành, thân, rễ. Trước hết, chúng tôi nêu ra những loại bệnh trên lá và cách xử lý.

Bệnh phấn trắng lá do nấm Oidium heveae Steinm gây ra. Bệnh gây rụng lá non và hoa cao su trên mọi lứa tuổi. Triệu chứng nhận biết là trên lá bị bệnh có nấm màu trắng ở hai mặt lá. Phương pháp xử lý: Đối với vườn nhân, vườn ương và KTCB, sử dụng một trong hai loại thuốc là bột lưu huỳnh thấm nước (Kumulus, Sulox) nồng độ 0,3%, hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già. Thực hiện phun thuốc 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày vào buổi sáng ít gió. Đối với vườn cây đang thu hoạch mủ, áp dụng biện pháp xử lý gián tiếp như tăng cường phân bón vào cuối mùa mưa.

Bệnh héo đen đầu lá phân bố khắp các vùng trồng cao su và tập trung vào mùa mưa. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể dẫn đến chết chồi và chết ngọn. Triệu chứng bệnh là gây rụng lá non dưới hai tuần tuổi, lá già không rụng thì méo mó, mặt lá gồ ghề. Bệnh gây khô ngọn, khô cành từng phần hoặc chết cả cây. Xử lý bệnh bằng cách: Sử dụng một trong các loại thuốc sau: carbendazim (Vicarben 50SC, Carbenzim 500FL…) nồng độ 0,2% hoặc hexaconazole (Anvil 5SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Anvil 250SC, Vixazol 275SC) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già, chu kỳ phun 7 - 10 ngày/lần.

Bệnh rụng lá mùa mưa và thối trái cao su do nấm Phytophthora botryosa Chee và P. palmivora. Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, mức độ gây hại khác nhau tùy từng vùng và dòng vô tính. Triệu chứng của bệnh là trên cuống lá bị rụng có một hoặc nhiều cục mủ trắng, trái cao su nhiễm bệnh thì bị thối, không rụng. Nấm cũng gây chết tược ghép mới trồng và chết cây con ở vườn nhân, vườn ương. Bệnh cũng lây xuống mặt cạo, do đó khi vườn cây bị bệnh rụng 50% tán lá thì phải giảm nhịp độ cạo hoặc cho nghỉ cạo trong mùa rụng lá nặng. Biện pháp xử lý: vườn cao su non bị bệnh thì sử dụng Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 0,1 - 0,2% để trị. Nếu chồi non nhiễm bệnh phải cắt bỏ phần bị thối và bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% sau đó bôi vaselin. Trên vườn cây thu hoạch mủ, khi bệnh rụng lá mùa mưa xuất hiện thì bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% để xử lý bệnh loét sọc mặt cạo.

Bệnh Corynespora do nấm Corynespora cassiicola gây nên. Bệnh xuất hiện quanh năm và mọi giai đoạn sinh trưởng của cây cao su, gây hại cho các dòng vô tính cao su mẫn cảm. Bệnh gây hại trên lá và chồi, làm chết cây con vườn ương, giảm tỷ lệ mắt ghép hữu hiệu của vườn nhân, giảm sinh trưởng cây KTCB và đôi khi gây chết cây. Triệu chứng thường gặp, xuất hiện trên lá, cuống lá và chồi với những triệu chứng khác nhau: Trên lá, triệu chứng đặc trưng của bệnh là có vết bệnh màu đen hình dạng xương cá chạy dọc theo gân lá. Vết lan rộng gây chết từng phần lá, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng cam và rụng từng lá chét một. Trên chồi và cuống lá, vết nứt dọc theo chồi và cuống lá dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, chết cả cây.  Trên gỗ có sọc đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên cuống lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 - 3,0 mm. Xử lý: Không trồng các dòng vô tính mẫn cảm như RRIC 103, RRIC 104, RRIM 725, RRIV 4,... Dùng một trong các loại thuốc như hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,15%, Propineb 50WP nồng độ 0,5% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC…) nồng độ 0,2 - 0,3% để trừ nấm. Cần chú ý phun mặt dưới lá với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần, từ 2 - 3 lần đến khi triệu chứng bệnh ngưng phát triển.

Bệnh đốm mắt chim thường xảy ra trên cây thực sinh trong vườn ương, nhất là vùng đất trũng, xấu. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể làm cây sinh trưởng kém dẫn đến tỷ lệ sử dụng làm gốc ghép thấp. Triệu chứng bệnh là vết bệnh có màu trắng ở trung tâm và viền màu nâu rõ rệt bên ngoài. Trên lá non gây biến dạng và rụng từng lá một, trong khi trên lá già vết bệnh tồn tại trong suốt giai đoạn sinh trưởng của lá. Xử lý bằng cách dùng thuốc gốc mancozeb (Dithane M-45...) nồng độ 0,3%, hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2 - 0,3%. Chỉ phun trên tầng lá non với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần.

Bình Nguyên (caosuvietnam)
 (Theo tài liệu của Viện NCCSVN)

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL