Chuyên trang cao su

Thứ năm, 18/12/2014

Last update:07:43:45 AM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU

KỸ THUẬT CAO SU

Các loại giống cao su

Ảnh minh họa.Giống GT1

argaiv1819

GT1 Là dòng vô tính được tuyển chọn tại Indonesia và được trồng nhiều nơi trên thế giới từ những năm 1960 - 1980. GT1 được trồng qui mô rộng ở Việt Nam từ 1981. Ở Đông Nam Bộ, sinh trưởng và sản lượng của GT1 từ kém đến trung bình.

Trong điều kiện bất thuận của cao trình trên 600 m hoặc miền Trung, GT1 sinh trưởng và sản lượng khá. Nâng suất của GT1 khởi đầu thấp, sau đó ổn định từ 1 - 1,4 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,1 - 1,2 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên cao dưới 600 m trong 120 năm khai thác đầu. GT1 tăng trưởng khi cạo trung bình, ít nhiễm bệnh loét sọc mặt cạo, nhiễm trung bình bệnh nấm hồng và rụng lá mùa mưa,tương đối dễ nhiễm bệnh lá phấn trắng, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ và chịu được cường độ cạo cao, ít khô mủ, kháng gió khá. 

GT1 không còn được khuyến cáo ở Malaysia do hiệu quả kinh tế kém hơn nhiều giống khác nhưng vẫn còn được khuyến cáo ở một số nước khác: Ấn Độ, Indonesia, Côte D''Ivoire, Cambodia.  

GT1 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và qui mô lớn cho vùng Tây Nguyên 600 - 700 m, miền Trung.

Giống LH82/156 (RRIV 2):

LH82/156 (RRIV 2) Là dòng vô tính do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha RRIC 117, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/156 nổi bật về sinh trưởng trong thời gian kiến thiết cơ bản và tăng trưởng khi cạo, vượt hơn PB 235 khoảng 15%, sản lượng những năm đầu thấp hơn PB 235, sau đó tăng dần, năng suất 5 năm đạt 1.340 kg/ha/năm (88% PB 235), đáp ứng với kích thích mủ khá tốt, nhiễm trung bình bệnh lá phấn trắng, dễ nhiễm bệnh nấm hồng. LH82/156 có thân chính chiếm ưu thế, tạo tiềm năng trữ lượng gỗ hữu dụng cao. Trữ lượng gỗ của LH82/156 vào năm 14 tuổi là 0,57 m3/cây (132% PB235).  LH82/156 được xem là giống cao su gỗ-mủ, được khuyến cáo qui mô lớn ở vùng thuận lợi và qui mô vừa ở vùng ít thuận lợi.

Giống LH82/158 (RRIV 3):

LH82/158 (RRIV 3) Tương tự như LH82/156, dòng vô tính LH82/158 do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha RRIC 117, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/158 sinh trưởng và sản lượng tương đương hoặc vượt hơn PB 235, năng suất 5 năm đầu ở Đông Nam Bộ đạt 1.500 kg/ha/năm (99% PB 235), tăng trưởng khi cạo khá, nhiễm nhẹ bệnh nấm hồng và rụng lá mùa mưa, nhiễm trung bình bệnh loét sọc mặt cạo và bệnh phấn trắng.

LH82/158 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và miền Trung. 

Giống LH82/182 (RRIV 4): 

LH82/182 (RRIV 4) Là dòng vô tính do Viện Nghiên cứu Cao su lai tạo năm 1982 với mẹ RRIC 110 và cha PB 235, được khảo nghiệm từ 1983, khu vực hoá từ 1994 và sản xuất diện rộng từ 1997. LH82/182 sinh trưởng khoẻ trong thời gian kiến thiết cơ bản, vượt PB235 trong nhiều thí nghiệm. Tuy nhiên, tăng trưởng khi cạo kém, sản lượng hơn hẳn PB 235 từ 20 - 60% và cao nhất trong các giống lai đợt 1982. Năng suất 5 năm đầu ở Đông Nam Bộ đạt 2.160 kg/ha/năm (142% PB 235). LH82/182 nhiễm nhẹ bệnh loét sọc mặt cạo, nhiễm trung bình bệnh rụng lá mùa mưa và nấm hồng, tương đối dễ nhiễm bệnh lá phấn trắng.

LH82/182 được khuyến cáo qui mô lớn ở vùng thuận lợi và qui mô vừa ở vùng ít thuận lợi, không nên trồng ở vùng có gió mạnh. 

Giống PB255: 

PB255 Là dòng vô tính  được tạo tuyển  ở Malaysia từ tổ hợp lai PB 5/51 x PB 32/36, nhập vào Việt Nam năm 1978, được khuyến cáo trồng qui mô vừa từ năm 1991. PB 255 sinh trưởng trung bình đến khá trong thời gian kiến thiết cơ bản, năng suất cao,  đạt 1,6 - 2,0 tấn/ha/năm  ở  Đông Nam Bộ và  đạt 1,1 - 1,2 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên cao dưới 600 m trong 10 năm đầu khai thác. Ở Quảng Bình, PB 255 sinh trưởng và có sản lượng cao hơn GT1 và PB 235,  đạt 1.075 kg/ha/năm trong 4 năm đầu khai thác. PB 255 tăng trưởng khi cạo khá, vỏ nguyên sinh khá dày, nhiễm bệnh phấn trắng và rụng lá mùa mưa trung bình, dễ nhiễm bệnh loét sọc mặt cạo và nấm hồng, dễ khô mủ, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ.

Có thể trồng PB 255 ở nhiều vùng cao su. Là giống kháng gió khá, PB 255 còn được khuyến cáo cho những vùng gió mạnh. 

Giống PB 260: 

PB 260 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Malaysia từ tổ hợp lai PB 5/51 x PB 49, kháng gió khá tại Malaysia nhưng kém ở Côte D''''Ivoire, được khuyến cáo trồng diện rộng trên nhiều nước. PB 260  được nhập vào Việt Nam năm 1978,  được khuyến cáo trồng quy mô vừa từ 1994 và được sản xuất rộng từ 1997. PB 260 sinh trưởng trung bình ở Đông Nam Bộ chỉ tương đuơng với GT1, nhưng năng suất cao hơn, trung bình 5 năm đạt 1,1 - 1,7 tấn/ha/năm. Ở Tây Nguyên cao 600 - 700 m, PB 260 sinh trưởng khá và sản lượng vượt hơn GT1, PB 235. Giống này tăng trưởng khi cạo trung bình, nhiễm nhẹ bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, nhiễm nhẹ  đến trung bình bệnh phấn trắng và loét sọc mặt cạo, dễ khô mủ, phản ứng mạnh khi cạo phạm, xuất hiện các bướu trên vỏ tái sinh.

PB 260 được khuyến cáo các qui mô lớn ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, qui mô vừa ở miền Trung, nên tránh vùng có gió mạnh. 

Giống RRIC 100: 

RRIC 100 Là dòng vô tính đựoc tạo tuyển ở Sri Lanka, từ tổ hợp lai RRIC 52 x PB 86, được trồng diện rộng ở Sri Lanka. Ở Malaysia, RRIC 100 được ghi nhận là giống cao sản, sinh trưởng khoẻ, chống chịu gió tốt, nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng. Trong các thí nghiệm tại Đông Nam Bộ, RRIC 100 sinh trưởng và sản lượng khá hơn GT 1, đạt năng suất 5 năm đầu từ 1,1 - 1,3 tấn/ha/năm. Ở Tây Nguyên, RRIC 100 tăng trưởng tốt và sản lượng cao hơn GT 1 (119% ở GT 1).

RRIC 100 được khuyến cáo qui mô vừa ở Tây Nguyên cao 600 - 700 m và miền Trung. 

Giống RRIC 121: 

RRIC 121 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Sri Lanka (PB 28/59 x IAN 873), sinh trưởng khoẻ và cao sản, được khuyến cáo ở bảng 1 tại Sri Lanka. RRIC 121 được nhập vào Việt Nam năm 1977, được sản xuất rộng từ 1997. Giống này sinh trưởng khá trong thời gian kiến thiết cơ bản, sản lượng khởi đầu thấp, sau tăng dần. Ở Đông Nam Bộ, RRIC 121  đạt năng suất thấp hơn PB 235 (80 - 85% PB 235) nhưng cao hơn ở Tây Nguyên. RRIC 121 ít nhiễm bệnh loét sọc mặt cao, nhiễm nấm hồng và rụng lá mùa mưa trung bình, dễ nhiễm phấn trắng. Ít khô mủ, kháng gió trung bình, đáp ứng tốt với chất kích thích mủ, tăng trưởng tốt trong khi cạo và có trữ lượng gỗ cao.

RRIC 121 được khuyến cáo qui mô vừa ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên dưới 600 m và miền Trung, tránh vùng phấn trắng nặng ở Tây Nguyên 600 - 700 m. 

Giống RRIM 600: 

RRIM 600 Là dòng vô tính được tạo tuyển ở Malaysia, từ tổ hợp lai TJ1 x PB 86, được khuyến cáo qui mô rộng tại Malaysia, Thái Lan, nhập vào Việt Nam trước 1975, được khuyến cáo bảng 1 từ 1981. RRIM 600 sinh trưởng trung bình và tăng trưởng khá khi cạo mủ. Năng suất RRIM 600 thường cao hơn GT 1, đạt 1,4 - 1,6 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,1 - 1,4 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên dưới 600 m trong 10 năm khai thác đầu tiên. Trên Tây Nguyên cao 600 - 700 m, RRIM 600 đạt năng suất 1 tấn/ha/năm, khá hơn GT 1 và PB 235 (114% GT 1). Ở Quảng Trị, RRIM 600 đạt năng suất tương đương PB 235 trong 4 năm đầu: 1.420 kg/ha/năm (151 % GT 1).

RRIM 600 nhiễm phấn trắng nhẹ, mẫn cảm với bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, loét sọc mặt cạo, khô mủ trung bình, đáp ứng kích thích khá.  RRIM 600 tuy dễ gãy cành do gió mạnh, nhưng mức thiệt hại không lớn và phục hồi nhanh. RRIM 600 cũng dễ nhiễm bệnh nấm hồng nhưng loại bệnh này có thể phòng trị được. Do năng suất ổn định, RRIM 600 được khuyến cáo trồng qui mô vừa ở vùng thuận lợi (Đông Nam Bộ và Tây Nguyên dưới 600 m) và qui mô lớn ở các vùng ít thuận lợi (Tây Nguyên 600 - 700 m và miền Trung). 

Giống RRIM 712: 

RRIM 712 Là dòng vô tính tạo tuyển từ Malaysia (RRIM 605 x RRIM 71),  được khuyến cáo cho vùng gió mạnh  ở Malaysia từ 1983. RRIM 712 nhập vào Việt Nam từ 1978, được sản xuất rộng từ 1997, sinh trưởng trung bình ở Đông Nam Bộ, nhưng khá đến tốt ở Tây Nguyên và miền Trung, sản lượng cao hơn GT 1 ở Đông Nam Bộ và hơn PB 235 ở Tây Nguyên, tương đương PB 235 và hơn GT 1 ở miền Trung. RRIM 712 tăng trưởng khi cạo kém, nhiễm trung bình bệnh loét sọc mặt cạo, nấm hồng, phấn trắng, rụng lá mùa mưa, ít khô mủ, kháng gió tốt.

RRIM 712 được khuyến cáo trồng qui mô vừa cho vùng cao su miền Trung có gió mạnh. 

Giống VM 515: 

VM 515 Là dòng vô tính nhập từ Malaysia năm 1978, chưa rõ phả hệ. Được khuyến cáo ở bảng 1 tại Việt Nam từ 1991. VM 515 sinh trưởng trên trung bình trong thời gian kiến thiết cơ bản, năng suất cao, có thể đạt 1,5 - 1,9 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,3 - 1,5 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên dưới 600 m trong 10 năm cạo đầu tiên. VM 515 tăng trưởng khi cạo kém, ít nhiễm bệnh nấm hồng và loét sọc mặt cạo, nhưng dễ nhiễm bệnh rụng lá mùa mưa và phấn trắng, dễ khô mủ, đáp ứng với kích thích từ trung bình đến khá.

VM 515 chỉ được khuyến cáo trồng qui mô vừa ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên dưới 600 m, không nên trồng ở vùng bệnh lá nặng hoặc có gió mạnh và không nên mở cạo sớm khi cây chưa đủ tiêu chuẩn về sinh trưởng. 

Caosu.net tổng hợp
Nguồn: nhanong.com.vn

Quy trình kỹ thuật trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo ngập úng (Bản đầy đủ)

Click vào đây để xem chi tiết
Lưu ý: Để xem được file này, máy tính của bạn phải cài chương trình Adobe Reader

Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam

Quy trình kỹ thuật trồng cao su vùng miền núi phía Bắc (Bản đầy đủ)

Click vào đây để xem chi tiết
Lưu ý: Để xem được file này, máy tính của bạn phải cài chương trình Adobe Reader

Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam

Kỹ thuật chăm sóc cao su trồng mới ở khu vực Tây Bắc: Các loại sâu bệnh chính và cách sử dụng, bảo quản thuốc bảo vệ thực vật

Ảnh minh họa.Bệnh khô ngọn khô cành nguyên nhân chính là do hậu quả của các bệnh phấn trắng, héo đen đầu lá, rụng lá mùa mưa, rét, nắng hạn, sét đánh, thiếu phân bón, úng nước… Bệnh có thể gây chết cây trong vườn nhân, vườn ươm và vườn KTCB.

Bệnh thân, cành, rễ và biện pháp xử lý

Với cây đang thu hoạch mủ, có thể gây chết một phần tán hay toàn bộ cây. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp xử lý thích hợp như bón phân, chống rét, chống hạn. Khi cây, cành bị bệnh thì phải cưa dưới phần bị chết 20 - 25 cm sau đó bôi một lớp mỏng vaselin.

Bệnh nấm hồng do nấm Corticium salmonicolor gây ra, bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, gây chết cành, cụt ngọn, phổ biến trên cây 3 – 8 tuổi. Vết bệnh chỉ xuất hiện trên thân và cành có vỏ đã hóa nâu. Ban đầu vết bệnh có mủ chảy và có tơ nấm dạng “mạng nhện” màu trắng, lúc bệnh nặng nấm chuyển sang màu hồng. Khi cành chết, lá khô không rụng, phía dưới vết bệnh mọc ra nhiều chồi. Xử lý bệnh bằng cách dùng một trong những loại thuốc như validamycine (Validacin 5L, Vanicide 5SL…) nồng độ 1,2%, hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,5%. Các loại thuốc trên cần phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 1%, phun bằng bình phun đeo vai có vòi nối dài với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần. Sau khi phun, phải kiểm tra, đánh dấu cây bệnh để xử lý lại nếu bệnh chưa khỏi. Ngưng cạo mủ những cây bị chết tán và cây bị bệnh nặng. Vào mùa khô, tiến hành cưa cắt cây, cành bị chết và đưa ra bìa lô để đốt

Bệnh nứt vỏ Botryodiploidia do nấm Botryodiplodia theobromae. Bệnh gây chết cây con, làm chậm sinh trưởng vườn cây KTCB, với vườn cây thu hoạch mủ làm hư mặt cạo và giảm sản lượng mủ. Triệu chứng của bệnh (vườn ươm và KTCB), ban đầu xuất hiện tại vị trí mắt ghép, hoặc trên chồi non với vết lõm có màu nâu đen, sau đó lan rộng gây chết khô. Cây KTCB 1 - 2 năm tuổi, trên chồi xuất hiện vết nứt có dạng hình thoi sau đó phát triển theo hướng lên và xuống, tại vết bệnh có mủ rỉ ra, phần vỏ và gỗ bị khô và xốp. Khi vết bệnh lan rộng, tán lá non sẽ khô và héo rũ nhưng không rụng, trên phần vỏ bị chết xuất hiện những đốm có màu nâu đen chứa bào tử. Trên cây vỏ đã hóa nâu (từ năm tuổi 3 - 7), trên vỏ xuất hiện nhiều mụn nhỏ kích thước 1 - 2 mm, sau đó các mụn này lan ra toàn bộ thân cành. Cuối cùng cả thân cành bị nứt và có màu nâu, mủ rỉ ra từ những vết nứt. Để trừ bệnh sử dụng một trong các loại thuốc như carbendazim nồng độ 0,5% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole nồng độ 0,2 - 0,3%. Các loại thuốc trên cần phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 1%. Dùng bình đeo vai có vòi dài phun ướt toàn bộ thân cây 2 - 3 lần với chu kỳ 2 tuần/lần.

Bệnh rễ nâu thường xuất hiện trên cây cao su trồng tại những vùng trước đây là rừng có nhiều cây thân gỗ hay vườn cây tái canh. Biểu hiện của bệnh xuất hiện trên tán lá và rễ: tán lá còi cọc, lá có màu xanh hơi vàng co rút và cụp xuống, nhiều cành nhỏ ở phần dưới tán bị rụng lá. Sau đó, toàn bộ tán lá bị rụng và cây chết. Với rễ, trên rễ bệnh mọc nhiều rễ con chằng chịt, dính lớp đất dày 3 - 4 mm khó rửa sạch. Sau khi rửa sạch, mặt ngoài rễ có màu vàng nâu. Phần gỗ chết có những vân màu nâu đen, dễ bóp nát. Triệu chứng trên rễ là dấu hiệu chính để xác định cây bị nhiễm bệnh. Để xử lý bệnh, khi khai hoang phải dọn sạch rễ trong hố trồng để giảm nguồn lây nhiễm ban đầu. Trên vùng có nguy cơ xuất hiện bệnh, trộn 100 - 150 g bột lưu huỳnh vào hố 5 - 7 ngày trước khi trồng. Với cây bị bệnh và những cây kế cận, dùng thuốc gốc hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,5% pha trong nước tưới quanh gốc trong bán kính 0,5 m với liều lượng 3 - 5 lít/cây và phải xử lý 2 - 3 lần với chu kỳ 2 tháng/lần. Với cây bị bệnh nặng, dùng mỡ Calixin 10% (pha trong hỗn hợp vaselin và dầu hạt cao su) quét lên phần rễ chính. Với các cây bị chết, cưa cách mặt đất 10 - 15 cm sau đó dùng Garlon 250 pha nồng độ 5% trong dầu diesel quét lên vết cắt hoặc đào hết gốc rễ để tiêu hủy nguồn bệnh.

Sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật

Để sử dụng thuốc có hiệu quả phải theo yêu cầu 4 đúng như sau: Đúng thuốc: mỗi thuốc chỉ dùng để phòng trừ cho đối tượng thích hợp. Thuốc trừ nấm bệnh không dùng để diệt sâu, diệt cỏ. Chỉ sử dụng các loại thuốc có trong danh mục do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cho phép. Đúng lúc: đúng giai đoạn phát sinh phát triển của tác nhân gây hại để thuốc có tác dụng diệt đạt hiệu quả cao. Đúng cách: mỗi loại thuốc có cách dùng khác nhau. Phải theo đúng đặc tính của thuốc và sự hướng dẫn trong quy trình. Đúng liều lượng: không tự ý tăng hoặc giảm lượng thuốc vì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý hoặc có tác dụng ngược như gây hại cho người và cây cao su.

Để an toàn khi dùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), không nên ăn, hút thuốc trong khi đang phun thuốc. Cần có trang bị bảo hộ lao động khi pha chế và phun thuốc. Sau khi phun phải thay quần áo và giặt sạch. Thời gian tiếp xúc thuốc tối đa không quá 6 giờ trong ngày. Không sử dụng bình phun bị rò rỉ vì có thể gây ngộ độc. Rửa sạch bình sau khi phun và không đổ xuống ao, hồ hoặc nơi chăn thả gia súc. Không phun ngược chiều gió và tránh để thuốc tiếp xúc với tất cả các bộ phận của cơ thể. Nếu bị dính thuốc cần rửa ngay và rửa nhiều lần bằng nước sạch và xà phòng. Nếu cảm thấy mệt nên nghỉ ngơi và thay người khác. Không sử dụng bao bì đựng thuốc vào bất kỳ mục đích nào khác. Không sử dụng bao bì thực phẩm để đựng thuốc BVTV.

Bảo quản thuốc BVTV bằng cách, các loại thuốc phải xếp riêng theo đối tượng phòng trị và có tên riêng. Trong kho không để thuốc BVTV lẫn với phân bón. Kho chứa thuốc nên xa dân cư, nguồn nước, thực phẩm và gia súc. Kho cần xây dựng vững chắc bằng vật liệu khó cháy, nơi không bị ngập úng. Kho phải có các phương tiện chữa cháy, phòng độc và cấp cứu.

Khi bị nhiễm thuốc BVTV cần làm ngay các bước: Nhanh chóng chuyển nạn nhân ra khỏi vùng nhiễm thuốc. Nếu nạn nhân không còn thở, cần tiến hành hô hấp nhân tạo. Thay quần áo nhiễm thuốc, lau rửa cơ thể nạn nhân bằng xà phòng và nước sạch. Tránh gây vết thương trên da vì sẽ làm thuốc xâm nhập vào cơ thể nạn nhân nhanh hơn. Nếu mắt bị dính thuốc, phải rửa nhiều lần bằng nước sạch, ít nhất trong 15 phút.

P.Thắng (caosuvietnam.net)
(Theo tài liệu Viện NCCS VN)

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL