Chuyên trang cao su

Thứ hai, 22/09/2014

Last update:09:51:22 AM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU

KỸ THUẬT CAO SU

Kỹ thuật chăm sóc cao su trồng mới, KTCB và phòng trừ sâu bệnh cao su vùng núi phía Bắc

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán.

argaiv1054

Chăm sóc cao su trồng mới và KTCB

Đối với cao su trồng mới, sau khi trồng, phải làm sạch cỏ theo bồn kết hợp tạo đường đồng mức, không kéo đất ra khỏi gốc cao su và làm cỏ 3 lần/năm. Ngoài ra, thường xuyên tỉa chồi thực sinh nhằm giúp tược ghép phát triển tốt. Còn với cao su KTCB, từ năm thứ hai trở đi, làm cỏ theo băng kết hợp hoàn thiện đường đồng mức. Làm cỏ 3 lần/năm, từ năm thứ sáu trở đi làm cỏ 2 lần/năm, ưu tiên trừ cỏ bằng thuốc diệt cỏ. Giữa hàng cao su tuyệt đối không cày ở vùng đất có độ dốc bình quân hơn 10O. Trên đất bằng chỉ cày giữa hàng khi cần làm đất trồng xen hoặc thiết lập thảm phủ, khoảng cách đường cày đến hàng cao su tối thiểu là 1,5 m.

Trong giai đoạn KTCB phải tủ gốc cho cây bằng vật liệu thực vật hoặc màng phủ nông nghiệp (PE), trước khi tủ gốc phải xới phá váng lớp đất mặt quanh gốc. Từ năm thứ hai đào hố đa năng trên hàng cao su, số lượng hố bằng một nửa số cây trồng. Hố đa năng có kích thước dài 80 cm, rộng 40 cm và sâu 30 cm. Bố trí hố đào trên hàng sát taluy dương giữa hai cây cao su, cách hai cây đào một hố. Thường xuyên bổ sung cỏ vào hố sau mỗi lần chăm sóc. Hố được dùng làm điểm bón phân từ năm thứ ba đến năm thứ tư đối với đất dốc 10O và làm điểm bón phân từ năm thứ ba cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ đối với đất dốc >10O. Từ năm thứ tư, với đất có độ dốc bình quân 10O, hố đa năng được đào giữa hai hàng cao su theo dạng nanh sấu, đối với đất dốc bình quân >10O, duy trì các hố đã đào từ năm thứ hai cho đến hết chu kỳ thu hoạch mủ. Cao su trong thời kỳ KTCB phải được bón phân vô cơ và hữu cơ, tất cả các loại phân bón phải được kiểm định chất lượng theo quy định của VRG. Phân vô cơ, bón từ 2 – 3 lần/năm, bón khi đất đủ ẩm, không bón phân vào thời điểm có mưa lớn, mưa tập trung. Từ năm thứ 2 đến năm thứ 3, phân hữu cơ được bón vào hố dọc hai bên hàng cao su theo hình chiếu của tán lá, lượng phân 1 - 2 kg/cây/năm, bón một lần vào đầu mùa mưa. Từ năm thứ 4 trở đi, phân được bón vào hố đa năng.

Trong giai đoạn đầu KTCB phải tỉa chồi có kiểm soát. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai tiến hành tỉa chồi có kiểm soát, ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 - 3 chồi/tầng cùng phát triển. Lưu lại cành từ độ cao 2,5 m để định hình tán. Mỗi vị trí phân cành trên thân chính chỉ giữ lại một cành. Đối với những cây phát triển quá chậm, thân bị tổn thương, cong vẹo, có thể lưu lại cành từ độ cao 2 m. Hàng năm vào đầu mùa khô tiến hành phòng chống cháy cho lô cao su. 

Các loại sâu bệnh và biện pháp xử lý

Cây cao su có thể bị bệnh trên các bộ phận như lá, cành, thân, rễ. Trước hết, chúng tôi nêu ra những loại bệnh trên lá và cách xử lý.

Bệnh phấn trắng lá do nấm Oidium heveae Steinm gây ra. Bệnh gây rụng lá non và hoa cao su trên mọi lứa tuổi. Triệu chứng nhận biết là trên lá bị bệnh có nấm màu trắng ở hai mặt lá. Phương pháp xử lý: Đối với vườn nhân, vườn ương và KTCB, sử dụng một trong hai loại thuốc là bột lưu huỳnh thấm nước (Kumulus, Sulox) nồng độ 0,3%, hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già. Thực hiện phun thuốc 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày vào buổi sáng ít gió. Đối với vườn cây đang thu hoạch mủ, áp dụng biện pháp xử lý gián tiếp như tăng cường phân bón vào cuối mùa mưa.

Bệnh héo đen đầu lá phân bố khắp các vùng trồng cao su và tập trung vào mùa mưa. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể dẫn đến chết chồi và chết ngọn. Triệu chứng bệnh là gây rụng lá non dưới hai tuần tuổi, lá già không rụng thì méo mó, mặt lá gồ ghề. Bệnh gây khô ngọn, khô cành từng phần hoặc chết cả cây. Xử lý bệnh bằng cách: Sử dụng một trong các loại thuốc sau: carbendazim (Vicarben 50SC, Carbenzim 500FL…) nồng độ 0,2% hoặc hexaconazole (Anvil 5SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Anvil 250SC, Vixazol 275SC) nồng độ 0,2%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già, chu kỳ phun 7 - 10 ngày/lần.

Bệnh rụng lá mùa mưa và thối trái cao su do nấm Phytophthora botryosa Chee và P. palmivora. Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, mức độ gây hại khác nhau tùy từng vùng và dòng vô tính. Triệu chứng của bệnh là trên cuống lá bị rụng có một hoặc nhiều cục mủ trắng, trái cao su nhiễm bệnh thì bị thối, không rụng. Nấm cũng gây chết tược ghép mới trồng và chết cây con ở vườn nhân, vườn ương. Bệnh cũng lây xuống mặt cạo, do đó khi vườn cây bị bệnh rụng 50% tán lá thì phải giảm nhịp độ cạo hoặc cho nghỉ cạo trong mùa rụng lá nặng. Biện pháp xử lý: vườn cao su non bị bệnh thì sử dụng Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 0,1 - 0,2% để trị. Nếu chồi non nhiễm bệnh phải cắt bỏ phần bị thối và bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% sau đó bôi vaselin. Trên vườn cây thu hoạch mủ, khi bệnh rụng lá mùa mưa xuất hiện thì bôi thuốc Ridomil MZ-72WP, Mexyl MZ-72WP nồng độ 2% để xử lý bệnh loét sọc mặt cạo.

Bệnh Corynespora do nấm Corynespora cassiicola gây nên. Bệnh xuất hiện quanh năm và mọi giai đoạn sinh trưởng của cây cao su, gây hại cho các dòng vô tính cao su mẫn cảm. Bệnh gây hại trên lá và chồi, làm chết cây con vườn ương, giảm tỷ lệ mắt ghép hữu hiệu của vườn nhân, giảm sinh trưởng cây KTCB và đôi khi gây chết cây. Triệu chứng thường gặp, xuất hiện trên lá, cuống lá và chồi với những triệu chứng khác nhau: Trên lá, triệu chứng đặc trưng của bệnh là có vết bệnh màu đen hình dạng xương cá chạy dọc theo gân lá. Vết lan rộng gây chết từng phần lá, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng cam và rụng từng lá chét một. Trên chồi và cuống lá, vết nứt dọc theo chồi và cuống lá dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, chết cả cây.  Trên gỗ có sọc đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên cuống lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 - 3,0 mm. Xử lý: Không trồng các dòng vô tính mẫn cảm như RRIC 103, RRIC 104, RRIM 725, RRIV 4,... Dùng một trong các loại thuốc như hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,15%, Propineb 50WP nồng độ 0,5% hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC…) nồng độ 0,2 - 0,3% để trừ nấm. Cần chú ý phun mặt dưới lá với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần, từ 2 - 3 lần đến khi triệu chứng bệnh ngưng phát triển.

Bệnh đốm mắt chim thường xảy ra trên cây thực sinh trong vườn ương, nhất là vùng đất trũng, xấu. Bệnh gây hại cho lá non và chồi non có thể làm cây sinh trưởng kém dẫn đến tỷ lệ sử dụng làm gốc ghép thấp. Triệu chứng bệnh là vết bệnh có màu trắng ở trung tâm và viền màu nâu rõ rệt bên ngoài. Trên lá non gây biến dạng và rụng từng lá một, trong khi trên lá già vết bệnh tồn tại trong suốt giai đoạn sinh trưởng của lá. Xử lý bằng cách dùng thuốc gốc mancozeb (Dithane M-45...) nồng độ 0,3%, hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC...) nồng độ 0,2 - 0,3%. Chỉ phun trên tầng lá non với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần.

Bình Nguyên (caosuvietnam)
 (Theo tài liệu của Viện NCCSVN)

Quy trình kỹ thuật trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo ngập úng: Quy trình kỹ thuật sản xuất cây giống cao su

Cây cao su trồng trên đất rừng khộp hiện phát triển khá tốt tại NT An Biên (Công ty TNHH MTV Cao su Chư Prông)Vừa qua, Hội đồng khoa học VRG đã thông qua bản dự thảo Quy trình kỹ thuật trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo ngập úng. Đây là công trình khoa học được nghiên cứu, thực hiện trong khoảng thời gian khá dài bởi Viện Nghiên cứu Cao su VN và Ban Quản lý kỹ thuật VRG. Việc thông qua và ban hành quy trình kỹ thuật này là cơ sở pháp lý rất quan trọng để các đơn vị áp dụng khi tiến hành trồng cao su ở những vùng đất rừng khộp nghèo ngập úng như Tây Nguyên, Lào, Campuchia.Kể từ số này, Tạp chí Cao su giới thiệu những nội dung cơ bản của quy trình kỹ thuật này. 

Kỹ thuật (KT) làm vườn ương tum trần

Để làm vườn ương tum trần, phải khai hoang và làm đất xong trước khi đặt hạt giống ít nhất 15 ngày, nếu đất chua phải bón vôi bột. Vườn ương tum trần phải được thiết kế thành những ô có kích thước 20m x 10m, giữa các ô có đường đi rộng 2m nối vào đường vận chuyển. Mật độ thiết kế 80.000 điểm/ha.

Hạt giống làm gốc gép, ưu tiên sử dụng hạt các dòng vô tính GT 1, PB 260, kế đến là hạt các dòng vô tính phổ biến khác. Khi trồng cây ra vườn ương, chọn những cây có thân mầm và rễ cọc dài khoảng 3 – 10 cm, trồng lúc trời mát. Bắt đầu ghép khi đường kính gốc ghép đo cách mặt đất 10 cm, đạt trên 10mm và cây có tầng lá trên cùng ổn định. Áp dụng kỹ thuật ghép mắt xanh và xanh nâu theo phương pháp ghép cửa sổ. Chọn mắt nách lá và vảy cá có mô mầm rõ, ghép cây vào lúc mát trời, không ghép lúc gốc cây còn ướt.

Đối với công đoạn bứng, xử lý và bảo quản tum. Sau khi ghép 20 ngày mới được mở băng ghép, ít nhất 15 ngày sau mở băng mới bứng tum. Cắt ngọn tum ở độ cao 5 - 7cm, cách mí trên của mắt ghép, mặt cắt nghiêng về phía đối diện và bôi vaselin ngay sau khi cắt. Cắt hết rễ bên, tránh phạm vào rễ cọc và cắt chừa rễ cọc dài ít nhất 45cm tính từ cổ rễ hoặc để dài hơn tiêu chuẩn. Phần tum từ cổ rễ trở xuống được xử lý bằng cách nhúng trong hỗn hợp bùn sệt gồm 2/3 đất nhão + 1/3 phân bò (trâu) tươi + 4% phân super lâm và nước. Tum vận chuyển đi xa thì thời gian bảo quản không quá 10 ngày sau khi bứng. Tưới nước 2 lần/ngày vào lúc trời mát trên đường vận chuyển.

Kỹ thuật làm vườn ương bầu và tum bầu có tầng lá

Mật độ thiết kế vườn ương bầu có tầng lá là 120.000 – 130.000 bầu/ha nếu kích thước bầu là 18cm x 35cm, từ 150.000 – 160.000 bầu/ha nếu kích thước bầu là 16cm x 33cm. Vườn ương bầu có tầng lá thiết kế hàng theo hai cách, hàng đơn và hàng kép.

Dùng bầu nhựa PE nguyên sinh dày 0,08 mm, một nửa chiều dài ở phần đáy có đục nhiều lỗ, các lỗ cách nhau 6 cm, đường kính lỗ 5mm. Kích thước bầu nhựa PE tùy theo loại đất. Đất cho vào bầu, chọn đất thịt có kết cấu tốt, với đất xám phải chọn đất có tỷ lệ cát thấp để tránh vỡ bầu. Đất lúc cho vào bầu phải tương đối khô, phân bón lót, phân nung chảy 8 – 10g/bầu, phân hữu cơ vi sinh, 10g/bầu hoặc phân chuồng hoai 50 – 100g/bầu.

Trước khi trồng cây vào bầu 1 – 2 ngày, đất trong bầu phải được tưới đẫm nước. Chọn những cây có rễ cọc và thân mầm dài khoảng 3 – 10 cm đặt vào bầu, chọn những cây cùng chiều cao để trồng cùng lượt. Trong vòng 20 ngày sau khi ra cây, hàng ngày kiểm tra thay thế ngay những cây không đạt yêu cầu.

Thường xuyên tưới nước, làm cỏ và bón phân. Ghép cây khi cây trong bầu có đường kính gốc đạt trên 8 mm đo ở vị trí cách mặt đất 10 cm. Ghép cây lúc trời mát, không ghép khi gốc ghép còn ướt, không tưới nước trong ngày ghép, sau khi ghép phải tưới nước bảo đảm đủ ẩm. Gỗ ghép, có tuổi cành tương đương với gốc ghép, bóc vỏ dễ dàng. Có thể áp dụng phương pháp ghép mắt non, mắt xanh hay mắt xanh nâu.

Sau khi ghép 20 ngày thì mở băng, ít nhất 15 ngày sau mở băng mới cắt ngọn. Cắt  ngọn bầu có cây ghép sống đạt đường kính trên 10 mm đo cách mặt đất 10 cm, cắt ngọn cao khoảng 5 – 7 cm. Sau khi cắt ngọn, nhấc bầu lên khỏi rãnh, cắt bỏ phần rễ đâm ra ngoài bầu, giữ bầu vừa đủ ẩm lúc vận chuyển để tránh long gốc, vỡ bầu. Bầu cắt ngọn được chuyển đến vườn ương, đặt bầu theo hàng kép sâu khoảng 10 cm, mắt ghép quay ra phía ngoài, tưới nước đủ ẩm, thường xuyên tỉa chồi dại, chọn bầu có tầng lá trên cùng ổn định, đồng đều để trồng.

Đối với kỹ thuật làm vườn ương bầu có tầng lá. Để sản xuất tum bầu 2 – 3 tầng lá cho thời vụ trồng mới hoặc trồng dặm thì tum được đặt vào bầu trước đó khoảng 5 – 6 tháng. Vườn ương thiết kế đảm bảo chóng xói mòn, thoát nước đồng thời thuận tiện cho việc thi công, chăm sóc, quản lý và vận chuyển.

Dùng bầu PE nguyên sinh, dày 0,08 mm, nửa chiều dài bầu ở phần đáy có đục nhiều lỗ. Bầu có kích thước 18 cm x 35 cm hoặc 16 cm x 33 cm đối với tum 6 – 8 tháng tuổi. (vụ sớm). Phải xử lý rễ trước khi cắm vào bầu, bôi vaselin kín vết cắt đuôi chuột và hồ rễ lại trước khi cắm vào bầu. Đất cho vào bầu phải tơi, mịn, được trộn phân bón lót theo định lượng. Đất cho vào 2/3 túi bầu, lắc đều vừa đủ chặt, tiếp theo cho đất đầy bằng miệng bầu và lắc đều cho đất xuống cách miệng bầu 1 cm, bầu đất phải tròn đều không gãy ở giữa.

Tưới đẫm nước cả bầu đất một ngày trước khi trồng. Sử dụng cây nọc xuyên lỗ giữa tâm bầu đến độ sâu bằng chiều dài lỗ tum đã xử lý, cắm tum vào giữa bầu cho mí mắt ghép cách đất 1 cm, mắt ghép quay ra phía ngoài. Sau khi cây đạt 2 tầng lá ổn định thì tiến hành đảo bầu lần thứ nhất, trước khi trồng 1 tháng đảo bầu và phân riêng từng nhóm cây có mức sinh trưởng tương đương, chọn những bầu có tầng lá trên cùng ổn định để trồng.

Vườn nhân gỗ ghép

Vườn nhân gỗ ghép có thể được thiết lập bằng các loại cây giống (tum trần và tum bầu có tầng lá). Thiết kế cây trồng theo hàng đơn, cây cách cây 0,5 m, hàng cách hàng 1 m, mật độ 20.000 gốc/ha. Cành gỗ ghép phải có kích thước và tuổi cành tương ứng với gốc ghép, bóc vỏ dễ dàng. Tùy theo giống, số lượng mắt ghép khác nhau nhưng bình quân chung phải đạt 10 mắt hữu hiệu trên 1 m cành gỗ ghép dạng xanh hoặc xanh nâu.

Với vườn nhân gỗ ghép, phải nâng tầng lá và cắt cành gỗ ghép. Nâng tầng lá, trước khi cắt cành 20 – 25 ngày, dùng dao sắc cắt lá chừa cuốn còn 1- 2 cm, cắt các tầng lá dưới thấp, giữ lại hai tầng lá trên cùng. Cắt cành gỗ ghép, chỉ cắt cành gỗ ghép có tầng lá trên cùng ổn định, dễ bóc vỏ, cắt cành vào lúc trời mát. Cành gỗ ghép ngay sau khi cắt phải được gom lại nhẹ nhàng để bảo quản, tuyệt đối không để ngoài nắng. Nếu sử dụng ngay, cành gỗ ghép phải được giữ ẩm trong bao bố thấm nước, để nơi thoáng mát. Khi chuyển đi xa, cành gỗ ghép phải được nhúng nước hoặc vaselin ở hai đầu, buộc chặt gỗ thành từng bó, mỗi bó 20 cành, xe vận chuyển phải có mui che thoáng mát, sàn xe rải mùn cưa ẩm hoặc trải bao bố. Thời gian từ khi cắt đến khi ghép không quá 5 ngày.

P.Thắng (caosuvietnam.net)

Quy trình kỹ thuật trồng cao su trên đất rừng nghèo ngập úng: Kỹ thuật khai hoang, thiết kế lô và trồng cao su

NT Snoul 3 (Công ty CPCS Phú Riềng – Kratie)Rừng khộp còn gọi là rừng thưa nhiệt đới hay rừng nhiệt đới rụng lá thường thấy ở Đông Nam Á tại các vùng có cao trình dưới 1.000 m, với đặc điểm là tầng đất mặt mỏng. Thực bì bao gồm cây rụng lá xen lẫn cây thường xanh ở mức độ khác nhau, trong đó cây chỉ thị là những loài thuộc họ Dầu như: dầu đọt tím, dầu bao, dầu rái, kiền kiền, sao, vên vên, sến.…Rừng khộp phân bố trên nhiều địa hình khác nhau, trên vùng đất bằng phẳng úng nước trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô thường xuất hiện rừng khộp nghèo. Quy trình khai hoang, thiết kế lô và xây dựng vườn cây này chỉ áp dụng trên đất rừng khộp nghèo ngập úng.

Khai hoang, làm đất và thiết kế lô

Đất trồng cao su phải có độ dốc bình quân dưới 300 và cao trình dưới 600 m. Trong phạm vi từ mặt đất đến độ sâu 70 cm, đất không bị ngập úng thường xuyên hơn 3 tháng, không có đá tảng dày đặc. Khi tiến hành khai hoang, làm đất cần lưu ý các yêu cầu sau: đất không ngập úng hoặc ngập úng nhẹ tiến hành khai hoang trước, diện tích ngập úng nặng thì chừa lại; không dồn gốc, rễ, cành cây xuống các hợp thủy, khe suối và các bàu trũng, sau khi khai hoang rà rễ một lần trên hàng trồng, không cày đất; thiết kế hệ thống mương tiêu chính trên bản đồ trước khi thiết kế lô. Trước khi đưa vào trồng, đất phải được khai hoang hợp lý và hoàn chỉnh các công trình xây dựng vườn cây bao gồm đường lô, đường liên lô và hệ thống thoát thủy vùng ngập úng.

Đối với thiết kế lô cao su, phải lập sơ đồ mặt bằng và thiết kế lô trồng trên bản đồ địa hình có tỷ lệ 1/5.000 để làm cơ sở cho việc thiết kế ngoài thực địa. Thiết kế lô có diện tích 12,5 ha (500 m x 250 m). Trên vùng trũng, thấp thì thiết kế hàng cao su hướng về phía hợp thủy chính hoặc khe suối ngay trong khu vực. Mật độ là 555 cây/ha theo khoảng cách 6 m x 3 m.

Trồng cao su trên đất rừng khộp nghèo ngập úng, việc thiết kế hệ thống mương tiêu nước chống úng rất quan trọng. Tùy theo đặc điểm từng vùng, việc bố trí hệ thống mương tiêu có đặc điểm riêng nhất định nhằm thỏa mãn yêu cầu tiêu nước của từng vùng dựa trên những nguyên tắc chung sau: Tận dụng các hệ thống khe suối tiêu tự nhiên, bàu trũng sẵn có làm hệ thống mương tiêu để giảm vốn đầu tư. Mương tiêu chính bố trí ở vị trí thấp nhất và phải có sự liên kết với hệ thống thoát thủy tự nhiên bên ngoài để có thể tiêu tự chảy cho cả vùng trồng cao su. Trong hệ thống mương tiêu nước, mương tiêu nhỏ cấp nước tự chảy cho mương tiêu lớn hơn và trên từng cấp mương tiêu, đầu nhận nước phải cao hơn đầu thoát nước.

Hệ thống mương tiêu nước chống úng trên vùng trồng cao su gồm bốn cấp sau: mương tiêu cấp 1 (T1), mương tiêu cấp 2 (T2), mương tiêu cấp 3 (T3), mương tiêu cấp 4 (T4). Phải hoàn chỉnh hệ thống mương tiêu chậm nhất vào cuối năm thứ hai. Trên từng lô cao su nếu có các diện tích úng cục bộ cần khơi dòng, đào rãnh dẫn nước ứ đọng về các mương cấp 4. Đầu và giữa mùa mưa, tổ chức nạo vét các mương đạt độ sâu và độ dốc quy định. Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra các điểm thu, xả nước của các mương, cống, xử lý kịp thời các điểm sạt lở, bồi lắng làm tắc nghẽn dòng chảy.

Trồng, chăm sóc, quản lý vườn cây trồng mới và KTCB

Hố trồng cao su có kích thước dài 70 cm, rộng 50 cm, sâu 60 cm, đáy hố rộng 50 cm x 50 cm. Ưu tiên sử dụng cơ giới để đào hố (xe múc), nếu đào thủ công phải để riêng lớp đất mặt và lớp đất đáy. Bón lót, mỗi hố 300 g phân lân nung chảy, 10 kg phân hữu cơ đã hoai mục, trộn phân lấp hố được thực hiện ngay sau khi đào hố và cắm cọc ở giữa tâm hố để đánh dấu điểm trồng. Hoàn tất việc đào hố và bón lót trước khi trồng ít nhất 15 ngày.

Thời vụ trồng từ 15/5 đến 30/8 với bầu có tầng lá hoặc tum bầu 2 – 3 tầng lá. Tiêu chuẩn bầu có tầng lá: đường kính gốc ghép đo cách mặt đất 10 cm đạt tối thiểu 12 mm, chồi ghép có ít nhất một tầng lá ổn định, khỏe. Tiêu chuẩn tum bầu có tầng lá: chồi ghép có ít nhất hai tầng lá ổn định, khỏe, bầu không bị bể, cây không long gốc.

Trước khi trồng bầu, dùng dao cắt sát đáy bầu và phần rễ cọc nhú ra khỏi bầu. Đặt bầu thẳng đứng, rạch túi bầu PE theo đường thẳng đứng từ dưới lên, vừa lấp đất vừa kéo túi bầu và dậm quanh đến khi đầy hố. Đối với tum bầu có tầng lá, khi cắt đáy bầu tránh phạm vào rễ cọc tum (rễ gốc tum cắm). Trồng dặm định hình vườn cây ngay năm thứ nhất, chậm nhất là năm thứ hai. Trồng dặm bằng cây con đúng giống và có mức phát triển tương đương với cây trên vườn. Sau đó, thiết lập thảm phủ cây họ đậu ngay từ năm thứ nhất, trên diện tích có xen cây ngắn ngày, nếu ngay sau khi ngưng trồng xen vườn cây cao su vẫn chưa giao tán phải thiết lập thảm phủ họ đậu.

Đối với công đoạn chăm sóc cao su KTCB. Từ năm thứ hai trở đi, làm cỏ cách gốc cao su mỗi bên 1,5 m, năm thứ 2 – 5 làm cỏ 4 lần/năm, từ năm thứ 6 trở đi làm cỏ 2 lần/năm. Sử dụng thuốc diệt cỏ tranh, tre, le giữa hàng cao su. Tủ gốc với vật liệu thực vật vào cuối mùa mưa hai năm đầu, trước khi tủ gốc phải xới phá váng lớp đất mặt quanh gốc. Ngoài ra, có thể tủ gốc bằng màng phủ nông nghiệp (PE). Từ năm thứ 2 đào hố đa năng trên hàng cao su, số lượng hố bằng một nửa số cây trồng. Giữa hai cây đào một hố, giữa hai hố cách nhau hai cây, theo dạng nanh sấu. Hố đa năng có kích thước dài 80 cm, rộng 40 cm và sâu 30 cm. Từ năm thứ tư hố đa năng được đào giữa hai hàng cao su, số lượng hố bằng một nửa số cây trồng, theo dạng nanh sấu. Giữa bốn cây đào một hố, giữa hai hố cách nhau hai cây theo dạng nanh sấu. Hố có kích thước dài 80 cm, rộng 50 cm và sâu 40 cm, được dùng làm điểm bón phân từ cuối năm thứ tư trở đi.

Bón phân cho cao su KTCB gồm có phân vô cơ và hữu cơ. Phân vô cơ được chia làm 2 - 3 lần trong năm, bón phân khi đất đủ ẩm, không bón vào thời điểm mưa lớn. Từ năm thứ nhất đến năm thứ hai, cuốc rãnh hình vành khăn hoặc bấu lỗ quanh gốc cao su theo hình chiếu tán để bón phân, từ năm thứ ba trở đi bón vào hố đa năng. Phân bón qua lá được sử dụng trong hai năm đầu. Lần đầu tiên phun khi cây có một tầng lá ổn định, các lần sau cách nhau 15 ngày. Phun vào những ngày không có mưa, phun từ 7 – 10 giờ sáng. Đối với phân hữu cơ, từ năm thứ hai đến năm thứ ba, phân được bón vào hố dọc hai bên hàng cao su theo hình chiếu tán của lá, sau đó vùi đất lấp phân. Lượng phân hữu cơ 1 – 2 kg/cây/năm, bón một lần vào đầu mùa mưa và từ năm thứ tư trở đi, phân hữu cơ được bón vào hố đa năng.

Ngoài ra, phải tỉa chồi có kiểm soát trong giai đoạn đầu KTCB. Năm thứ nhất chỉ tỉa chồi ngang khi tầng lá trên cùng ổn định. Từ năm thứ hai phải tỉa chồi có kiểm soát. Ở hai tầng lá ổn định trên cùng của cây luôn để lại 2 – 3 chồi/tầng cùng phát triển.

P.Thắng (caosuvietnam.net)

Biện pháp nào trị bệnh rụng lá cao su?

Trước tình trạng bệnh bệnh rụng lá Corynespora xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại lớn cho người trồng cao su, chúng tôi đã liên hệ với cơ quan chuyên môn để tìm hiểu về loại bệnh nguy hiểm này. Sau đây là bài viết của ông Phan Thành Dũng - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cao su VN và Tiến sĩ Nguyễn Anh Nghĩa - quyền trưởng Bộ môn BVTV, Viện Nghiên cứu Cao su VN. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp những thông tin cần biết về loại bệnh này cũng như khuyến nghị một số biện pháp phòng trị bệnh.  

Tình hình bệnh Corynespora trên cây cao su  

Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên tại Sierra Leon vào năm 1936 (Wei, 1950), tiếp theo nó xuất hiện ở Ấn Độ (1961), Malaysia (1961), Nigeria (1969), Indonesia (1983), Brazil, Sri Lanka và Thái Lan (1985), Bangladesh (1988), Cameroon (1996), VN (1999) và Trung Quốc (2007). Đến nay, bệnh đã xuất hiện ở hầu hết các nước trồng cao su trên thế giới.  

Ban đầu, bệnh Corynespora được xem không gây hại đáng kể và chỉ xuất hiện trên một vài dòng vô tính cao su. Càng ngày bệnh này càng trở nên nghiêm trọng và trở thành dịch ở nhiều quốc gia.  

Năm 1975, bệnh Corynespora gây hại trên dòng vô tính RRIM 725 làm rụng lá và chết cây, sau đó lây nhiễm cho một số dòng vô tính khác như RRIC 103, FX 25, KRS 21, PPN 2058, PPN 2444 và PPN 2447. Hiện nay, bệnh này được xem là bệnh hại chính trên cây cao su ở Malaysia và lan rộng từ miền Nam lên miền Bắc bán đảo Malaysia.  

Tại Sri Lanka, từ năm 1986 đến 1988, hơn 4.000 ha cao su trồng bằng dòng vô tính RRIC 103 bị nhiễm bệnh nặng phải tái canh bằng dòng vô tính khác. Tại Indonesia, sau khi phát hiện bệnh vào năm 1980, bệnh Corynespora đã dần lan sang tất cả các vùng trồng cao su trong nước với 1.200 ha cao su đã bị nhiễm bệnh nặng, trong đó 400 ha phải bị loại bỏ hoàn toàn. Ở Ấn Độ, dịch bệnh xuất hiện năm 1996 và ngày càng phát triển với tỉ lệ bệnh lên đến 50 - 70 % ở một số vùng trồng cao su làm giảm sản lượng đến 30%. Hiện nay, hơn 10.000 ha cao su bị nhiễm bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng trị.  

Tháng 8 năm 1999, bệnh Corynespora được phát hiện ở VN tại Trạm Thực nghiệm Cao su Lai Khê thuộc Viện Nghiên cứu Cao su VN. Đến tháng 9/1999, bệnh được phát hiện ở các khu vực trồng cao su khác ở Đông Nam bộ, chủ yếu là hai dòng vô tính RRIC 103 và RRIC 104 và toàn bộ cây cao su bị nhiễm bệnh nặng đều phải tiêu hủy. Từ lúc phát hiện cho đến nay, số lượng dòng vô tính cao su bị nhiễm bệnh đã tăng lên rất đáng kể trong đó đáng kể nhất là dòng vô tính RRIV 4, hiện chiếm diện tích đã trồng khá lớn ở cao su đại điền và tiểu điền.  

Tác nhân gây bệnh  

Do nấm Corynespora cassiicola (Berk & Curt) Wei , họ Moniliales gây nên. Nấm còn có tên khác: Helminthosporium cassiicola Berk. & Curt., apud Berk.; H. papayae H. Syd.; H. vignae Olive, apud Olive, Bain & Lefbvre; Cercospora melonis Cooke; C. vignicola Kawamura; Corynespora melonis (Cooke). Đây là loại nấm phân bố rộng khắp thế giới đã được ghi nhận ở hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, có khả năng gây bệnh cho hơn 300 loài thực vật bao gồm các loài cây ăn quả, rau quả, ngũ cốc, cây lâu năm, cây rừng và các loại cây cảnh. Một số nòi (race) nấm C. cassiicola có tính chuyên biệt và một số nòi có phổ ký sinh rộng.  

Hiện nay nấm gây hại trên cây cao su cũng đã hình thành nòi sinh lý mới nên có khả năng gây hại cho nhiều dòng vô tính, ngoài ra trong quá trình ký sinh nấm còn tiết ra chất độc (CC toxin), hợp chất này rất độc cho cao su, cho nên chỉ với một vết bệnh nhỏ trên gân lá chính cũng đủ gây rụng lá. Nấm có khả năng gây hại cho cả lá già và non cũng như cuống lá và chồi. Hơn nữa, do xảy ra quanh năm và suốt chu kỳ sống của cây cao su nên có tác hại lớn, nhất là cho các dòng vô tính mẫn cảm.  

Mọi chi tiết có thể tham khảo thêm tại: http:www.rriv.org.vn. Hoặc liên hệ trực tiếp: Bộ môn BVTV, Viện Nghiên cứu Cao su VN, thị trấn Lai Khê, huyện Bến Cát, Bình Dương. ĐT: 0650.3565150 để được hướng dẫn cụ thể.  

Triệu chứng  

Triệu chứng xuất hiện trên lá, cuống lá và chồi với những biểu hiện khác nhau:  

Trên lá: triệu chứng đặc trưng của bệnh là có vết bệnh màu đen hình dạng xương cá chạy dọc theo gân lá (Hình 1). Hiện nay, dạng đốm lá trở nên phổ biến với những đốm đen có kích thước 1-2 mm có quầng vàng nhạt sau đó lan rộng (Hình 2). Vết lan rộng gây chết từng phần lá, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng cam và rụng từng lá chét một. Sự xuất hiện của các triệu chứng bệnh tùy thuộc vào tính mẫn cảm của các dòng vô tính, điều kiện thời tiết.  

Trên chồi và cuống lá: vết nứt dọc theo chồi và cuống lá dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, chết cả cây. Trên gỗ có sọc đen chạy dọc theo vết bệnh. Trên cuống lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 - 3,0 mm.  

Phòng trị  

- Không trồng các dòng vô tính mẫn cảm như: RRIC 103, RRIC 104, RRIM 725, RRIV 4,...  

- Thuốc trừ nấm: dùng một trong các loại thuốc như hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC…) nồng độ 0,15%; hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole phối trộn theo tỷ lệ 1:1; hay thuốc đã phối trộn sẵn (Arivit 250SC, Vixazol 275SC…) nồng độ 0,2 - 0,3%. Cần chú ý phun mặt dưới lá với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần, với số lần phun từ 2 - 3 lần đến khi triệu chứng bệnh ngưng phát triển.  

- Bón phân cân đối và đầy đủ. Ngoài lượng phân bón theo quy trình, vườn cây bị nhiễm bệnh cần tăng lượng phân kali hơn 25% để giúp cây cao su kháng bệnh.  

Phan Thành Dũng
Nguyễn Anh Nghĩa
(Viện Nghiên cứu Cao su VN) 

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL