Thứ năm, 17/04/2014

Last update:08:16:35 AM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU

KỸ THUẬT CAO SU

Tỉa chồi có kiểm soát trong giai đoạn đầu KTCB

Ảnh: THCây cao su có phần thân ở độ cao dưới 2,5m thẳng và nhẵn để thuận lợi cho quá trình khai thác, vì vậy việc tỉa chồi được thực hiện vào năm thứ 2 và 3 sau khi trồng. Việc tỉa chồi không đúng kỹ thuật sẽ có thể kéo dài thời gian KTCB đến 6 tháng, thậm chí gây chết cây.
1. Mục tiêu
Mục tiêu của việc tỉa chồi có thể tóm tắt như sau:
•* Tạo được số lượng lớn của lá ở giai đoạn đầu KTCB
•* Tạo lá tán có khả năng hấp thu ánh sáng mặt trời tốt nhất.
•* Kích thích tăng trưởng vành thân
•* Tạo một bộ tán cân đối qua đó giảm sự thiệt hại do gió
Kết quả từ  nghiên cứu cho thấy để cây cao su tăng vanh và  sinh trưởng tốt nhất là cây nên được phân cành ở độ cao khoảng 2,5m so với mặt đất. Nếu  để phân cành quá cao có thể làm giảm sự  tăng vanh ( bảng 1) 
Thí nghiệm 
Nghiệm thức 
5 năm sau 
Vanh (cm) 
Tỷ lệ cây cạo(%) 
Tỉa chồi tại đồn điền* 
47,2 
36,5 
Tỉa chồi có kiểm soát 
49,6 
53,4 
Tỉa chồi tại đồn điền* 
44,9 
49,7 
Tỉa chồi có kiểm soát 
46,1 
59,1 
*Tỉa tất cả  chồi ở độ cao dưới 3m
2. Tỉa chồi có kiểm soát
Tỉa chồi có kiểm soát chỉ thực hiện trong năm thứ 2 và năm thứ 3 với các bước sau:
•* Không tỉa chồi xuất hiện trên 2 tầng lá trên cùng.
•* Khi cây mọc nhiều chồi, sẽ thực hiện tỉa và chừa lại 3-4 chồi phân bố đều các hướng.
•* Khi cây ra tầng lá mới trên cùng hình thành và ổn định, tiếp tục tỉa loại các chồi đã để lại ở tầng thứ 4 tính từ trên xuống. Duy trì biện pháp tỉa chồi có kiểm soát đến khi cây định hình tán.
•* Lưu lại cành từ độ cao 2,5m để định hình tán. Mỗi vị trí phân cành trên thân chính chỉ giữ lại một cành.
•* Cắt chồi sát thân chính và xử lý vết cắt bằng vaselin.
3. Thực trạng công tác tỉa chồi hiện nay
Thực hiện theo điều 82: Cắt chồi thực sinh, chồi ngang, Quy trình kỹ thuật cây cao su 2004
•* Sau khi trồng phải cắt chồi thực sinh và chồi ngang kịp thời để cho chồi ghép phát triển tốt.
•* Tỉa cành, tạo tán: Trong các năm đầu KTCB cần thường xuyên kiểm tra cắt bỏ những cành mọc lệch tán, cành mọc tập trung.
•* Ở vùng thuận lợi tạo tán ở độ cao 3m trở lên.Ở vùng có gió mạnh nên giữ độ cao phân cành từ 2,2m trở lên.
•* Ở vùng ít thuận lợi vào mùa thay lá của các năm đầu phải tỉa cành có kiểm soát: Khi cắt tỉa chồi bên, duy trì 3-4 chồi ngang gần ngọn để hỗ trợ ngọn chính. Lưu lại cành từ độ cao 2,2m để định hình tán. Mỗi vị trí phân cành trên thân chính chỉ giữ lại 1 cành.
Một số nơi trong sản xuất vẫn thực hiện tỉa chồi triệt để toàn bộ chồi từ độ cao 2,5m trở xuống, cho dù tầng lá trên cùng chưa ổn định. Ngoài ra việc tỉa chồi trong mùa khô sẽ làm sinh trưởng của cây chững lại, đôi khi gây chết lại.
4. Một số  vấn đề cần quan tâm và thảo luận thêm
- Chỉ thực hiện tỉa chồi trong giai đoạn mùa mưa.
- Chấm dứt tỉa chồi 1 tháng trước mùa khô và tuyệt đối không tiến hành tỉa chồi trong giai đoạn mùa khô.
- Cần phải bôi vaselin trên vết cắt.
- Những dòng vô  tính phân cành cao không cần tỉa chồi ( cành thứ cấp  ở dưới sẽ rụng khi cây phát triển)
                                                 P.V (caosuvietnam.net)

(Tham luận của Viện NCCS tại Hội thảo thâm canh vườn cây cao su năm 2009)

argaiv1935


BẢNG 1: Ảnh hưởng của tỉa chồi có kiểm soát đến sinh trưởng và tỷ lệ cây cạo của dòng vô tính RRIM 600 (theo Yon và cộng sự, 1976, 1982,1984)

Bệnh phấn trắng trên cây cao su

Ảnh minh họa.Để phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây cao su hiệu quả, không những cần sử dụng đúng thuốc, phun xịt đúng kỹ thuật mà còn phải lưu ý áp dụng đồng thời nhiều biện pháp:

- Tăng lượng phân đạm và kali vào giai đoạn cao su bắt đầu ra lá mới để giúp tầng lá sớm ổn định.

- Trồng giống kháng bệnh: bà con có thể tìm hiểu các dòng vô tính kháng bệnh ở các trung tâm khuyến nông tỉnh hoặc các trạm nghiên cứu và thực nghiệm cao su ở địa phương.

- Vệ sinh vườn cây ngay trong và sau khi rụng lá.

- Thăm vườn cao su thường xuyên để sớm phát hiện bệnh, từ đó có biện pháp phòng trị thích hợp, kịp thời.

Ở các vườn cây có nguy cơ nhiễm bệnh cao hoặc những vườn cây năm trước đã nhiễm bệnh, căn cứ vào sự ra lá mới để quyết định xử lý bằng cách phun thuốc trực tiếp lên cây ngay trong mùa bệnh từ 3 đến 6 lần, với chu kỳ 7-10 ngày/lần.

Loại thuốc có hiệu quả mà vùng trồng cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ sử dụng khá phổ biến hiện nay là Sulox 80WP: phun thuốc Sulox trong giai đoạn chồi đọt chuẩn bị cho đợt lá đầu tiên hoặc khi phát hiện có dấu hiệu bệnh, nồng độ là 2 - 2,2‰ (từ 2kg đến 2,2kg thuốc thành phẩm trên 1.000 lít nước).

Phun thuốc đúng thời điểm cũng là một trong những yếu tố quyết định khả năng thành công của việc phòng trừ bệnh phấn trắng trên cao su: thời điểm phun hiệu quả cao là giai đoạn búp lá (lá có màu tím nhạt), tức là lúc lá chưa hoàn chỉnh về mặt hình thái, nên phun 2 lần và cách nhau 2 tuần hiệu quả sẽ cao hơn.

Một kinh nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng rất hiệu quả nữa là kết hợp phun thuốc Sulox với phân bón lá cao cấp Multi-K nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng và chống chịu bệnh của cây cao su với liều lượng 2kg-3kg phân Multi-K/1.000 lít nước và phun kết hợp với thuốc Sulox ở lần xử lý thứ hai.

Nguồn:khoahocchonhanong.com.vn

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả việc cạo mủ cao su

Hiệu quả việc cạo mủ nhìn chung do một tác động chính đó là con người. Từ kỹ năng, sự khéo tay của người công nhân cạo mủ, đến việc quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ của người quản lý và không thể không nói đến vấn đề ý thức và kiến thức cơ bản về sự cho mủ của cây cao su.

Ngoài ra còn một số các yếu khác chi phối nữa như độ sắc bén của dao cạo, địa hình vườn cây, thể trạng, giới tính người công nhân cạo mủ. Thời gian tiến hành cạo mủ (kể cả thu trút mủ) thường khoảng 25% thời gian dành cho cạo mủ, 35% thời gian đi lại để cạo mủ và 40% thời gian cho việc vệ sinh, thay thế chén máng. (Paarderkooper, 1989). 

Tuổi cây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cạo mủ, thường thì cạo năm cạo 1-5 thời gian cạo nhanh hơn so với cạo từ năm 6-12 (vỏ cạo nguyên sinh), do tốc độ tăng vanh của cây thấp hơn, và khi cạo vỏ cạo tái sinh thì thơi gian cạo có lâu hơn do tăng chiều dài đường cạo, thêm miệng cạo và điều kiện vỏ tái sinh.

Với một giống và chế độ cạo cho sẵn, năng suất mủ thu hoạch sẽ tùy thuộc vào tốc độ chảy mủ ban đầu và thời gian mủ chảy. Áp lực trong ống mủ trong thời gian tiến hành cạo mủ có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng mủ thu và thường việc cạo mủ được tiến hành vào lúc sáng sớm, khi ấy mủ chứa trong các mạnh mủ ở trong điều kiện áp suất tăng cao (từ 1,0-1,5 Mpa). Sau khi mặt trời mọc, áp suất này giảm đi và đạt mức thấp nhất từ 1300-1400 IST. 

Không thấy khác biệt về sản lượng mủ giữa áp suất 2000 và 1700 IST, sau đó sản lượng mủ thu sẽ giảm dần và chỉ còn 70% so với lúc ban đầu khi áp suất bên trong mạch mủ chỉ còn 1300 IST. Có biến thiên thuận giữa áp suất bốc thoát hơi nước trong không khí với sản lượng mủ thu hoạch. Điều này cho thấy vai trò của việc hô hấp với áp suất căng bề mặt ống mủ ảnh hưởng đến sự chảy mủ.

Hàm lượng mủ khô drc lúc giữa trưa tăng lên 4 đơn vị so với mủ thu lúc ban đêm, tuy nhiên tốc độ mủ chảy ban đầu trong đêm và lúc sáng sớm cao hơn, nên sản lượng mủ thu nhiều hơn và ít nhiều bù lại cho drc có thấp hơn. 

Bề vòng thân cây cao su sẽ xác định chiều dài miệng cạo, điều này tùy thuộc vào các giống. Vùng huy động mủ cũng có ảnh hưởng nhiều đến sản lượng mủ và biến thiên của vùng huy động mủ cũng tùy từng giống khác nhau, cây cho sản lượng mủ cao, có vùng huy động mủ rộng và sẽ dần đến có đáp ứng thấp hơn về sản lượng khi tăng chiều dài miệng cạo, và yếu tố này cũng thay đổi theo mùa trong năm.

Ngoài chiều dài miệng cạo, số miệng cạo cũng ảnh hưởng đến sản lượng mủ thu, mở thêm một miệng cạo nữa, mủ thu sẽ tăng lên, nhưng cạo 2 miệng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tăng trưởng của cây cao su và chế độ cạo 2 miệng như vậy không thích hợp cho các cây tơ. Có ý kiến cho rằng cạo 2 miệng chỉ có lợi khi cạo lớp vỏ tái sinh 1 ở mặt cạo D (lớp vỏ cạo BI-2). Khi cạo 2 miệng, nếu vùng huy động mủ không hợp nhất được hoặc độc lập về sinh lý thì có thể không gặp ảnh hưởng trái nghịch nào trầm trọng trong một thời gian ngắn. 

Nhịp độ cạo có ảnh hưởng rất đáng kể đến sinh lý và đáp ứng sãn lượng mủ của cây cao su. Cạo nhịp độ cao sẽ ảnh hưởng đến cân bằng sinh lý giữa sự cho mủ và tái tạo mủ, trong khi đó cạo giãn nhịp độ sẽ thu được ít mủ hơn. Thông thường, cạo nhịp độ cạo thấp cho năng suất mủ/lần cạo cao. Có tương quan nghịch giữa nhịp độ cạo và năng suất mủ/lần cạo. 

NVMy - Ban Quản lý Kỹ thuật - TCTCSVN

Đặc tính một số giống cao su

1. Dòng vô tính RRIM 600

Sinh trưởng KTCB: Trung bình trong thời gian KTCB.

Tăng trưởng trong khi cạo:  Khá.
Sản lượng:Khá cao và ổn định trên nhiều vùng. Ở Việt Nam có thể đạt 1,5 - 2 tấn/ha từ năm cạo thứ tư trở đi. Thân thẳng, tròn; vỏ dày trung bình, tán rộng. Ít nhiễm bệnh phấn trắng. Dễ nhiễm nấm hồng, loét sọc miệng cạo. Kháng gió khá.
Có thể áp dụng chế độ cạo cường độ cao, thích hợp điều kiện tiểu chủ.
Đánh giá chung
RRIM 600 có sản lượng mủ khá và rất ổn định, sinh trưởng trung bình nhưng tăng trưởng trong khi cạo khá. Được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước nhất là trong điều kiện tiểu điền (chiếm hầu hết diện tích cao su Thái Lan). Ở Việt Nam rất triển vọng cho Tây Nguyên và  Bắc Trung bộ.
2. Dòng vô tính PB 260
Sinh trưởng KTCB: Trung bình đến khá ở Đông Nam bộ, khoẻ ở Tây Nguyên.
Tăng trưởng trong khi cạo: Khá.
Năng suất: Tại miền Đông Nam bộ, các năm đầu PB 260 có sản lượng thấp hơn PB 235 nhưng có xu hướng tăng cao vào các năm sau. Tại Tây Nguyên, sản lượng cao ngay các năm đầu, vượt nhiều giống khác.
Thân thẳng, tròn, chân voi rõ, tán cân đối, cành thấp tự rụng. Ít nhiễm hoặc nhiễm nhẹ các loại bệnh trừ bệnh loét sọc mặt cạo. Kháng gió khá.
Nên áp dụng chế độ cạo nhẹ, đáp ứng kích thích trung bình.
Đánh giá chung: 
Sinh trưởng khá và sản lượng mủ cao trên nhiều môi trường. Ít nhiễm bệnh lá phấn trắng, thích hợp cho vùng cao. Nhược điểm là mẫn cảm bệnh loét sọc mặt cạo, không nên mở cạo sớm khi vỏ còn mỏng.
3. Dòng vô tính cao su GT 1
Sinh trưởng KTCB: Trung bình, ổn định. Ở vùng thuận lợi Đông Nam bộ và Tây Nguyên cao dưới 600 m, cũng như ở miền Trung, GT 1 sinh trưởng kém hơn nhiều giống khác. Nhưng trong điều kiện bất thuận của vùng Tây Nguyên 600-700 m, GT 1 sinh trưởng tương đương với các giống phổ biến. 
Tăng trưởng trong khi cạo: Trung bình.
Năng suất: Năng suất khởi đầu chậm, 10 năm đầu khai thác với chế độ cạo không kích thích, đạt khoảng 1,4 T/ha/năm.
Các đặc tính quan trọng khác
Thân thẳng, vỏ nguyên sinh hơi mỏng, cứng, tán hẹp, hạt làm gốc ghép tốt
Kháng gió khá, nhiễm nhẹ đến trung bình các loại bệnh lá.
Có thể áp dụng chế độ cạo trung bình, đáp ứng kích thích bền. Đặc tính mủ thích hợp cho việc sơ chế hầu hết các chủng loại cao su.
Đánh giá chung
Sinh trưởng và sản lượng trung bình, ổn định trong các điều kiện khác nhau. Ở Việt Nam nên hạn chế trồng GT 1 ở vùng thuận lợi do năng suất, sinh trưởng kém hơn nhiều giống hiện có; thích hợp ở vùng bất thuận tại Tây Nguyên và miền Trung.
4. Dòng vô tính RRIM 712
Sinh trưởng KTCB: Sinh trưởng dưới trung bình, bằng hoặc thấp hơn các giống phổ biến như GT 1, RRIM 600.
Tăng vanh trong khi cạo: Trung bình.
Sản lượng:  Vùng Đông Nam bộ, sản lượng RRIM 712 kém hơn PB 235; ở Ã Tây Nguyên và miền Trung, năng suất cao hơn GT1 và PB 235.
Các đặc tính quan trọng khác
Thân thẳng, tròn, tán nhỏ, cành lưu lại lâu dài, tán thấp nhỏ, cành trung bình, không phân tầng. Nhiễm nhẹ các loại bệnh. Kháng gió tốt.
Đánh giá chung
Sinh trưởng và tăng trưởng kém hơn RRIM 600 nhưng năng suất cao hơn; kháng gió tốt. Rất triển vọng cho vùng ảnh hưởng bão thường xuyên ở vùng duyên hải miền Trung.
5. Dòng vô tính PB 235
Sinh trưởng KTCB: Khoẻ ở vùng thuận lợi, ở vùng bất thuận (Tây Nguyên cao > 600m, Duyên hải miền Trung) sinh trưởng không trội hơn GT 1.
Tăng trưởng trong khi cạo: Khá.
Sản lượng: Năng suất thay đổi theo điều kiện môi trường và từng năm; sản lượng cao, sớm ở vùng Đông Nam bộ, nhưng trung bình ở vùng bất thuận.
Các đặc tính quan trọng khác
Thân thẳng, tròn đều, cành phân tầng cân đối ở giai đoạn đầu, rậm trung bình, về sau tán nhỏ với 1-2 cành chính, cành thấp tự rụng. Ít nhiễm hoặc nhiễm nhẹ các loại bệnh trừ bệnh phấn trắng thì dễ nhiễm. Kháng gió trung bình đến kém.
Nên áp dụng chế độ cạo nhẹ, đáp ứng kích thích trung bình.
Đánh giá chung
Có sinh trưởng khoẻ và sản lượng cao trong điều kiện thuận lợi nhưng thành tích giảm sút rõ trong điều kiện bất thuận, nhất là vùng cao.  Không trồng ở vùng có cao trình 600-700 m do bệnh phấn trắng nặng và vùng thường xảy ra gió bão do khả năng kháng gió kém. Cần lưu ý trong việc áp dụng chất kích thích mủ vì  có thể dẫn đến đáp ứng thấp và khô miệng cạo cao.

LÊ MẬU TÚY (Viện Nghiên cứu  Cao su)

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter