Chuyên trang cao su

Thứ ba, 02/09/2014

Last update:12:22:07 PM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU KHAI THÁC & CHẾ BIẾN

KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN

Quy trình sản xuất mủ tờ của công ty cao su Lộc Ninh

Công nghệ chế biến mủ tờ của công ty được thừa kế từ thời Pháp. Bằng việc cải tạo đưa vào sản xuất từ năm 2003, có thể nói đây là mặt hàng thủ công truyền thống tới nay luôn nhận được sự ưu ái chọn lựa của khách hàng. Trang Kỹ thuật Cao su kỳ này xin giới thiệu quy trình chế biến mủ tờ của Công ty TNHH MTV Cao su Lộc Ninh.

argaiv1511

Yêu cầu kỹ thuật đối với mủ nước

STT
CHỈ TIÊU
YÊU CẦU KỸ THUẬT
LOẠI 1 (TỐT) LOẠI 2 (TRUNG BÌNH) LOẠI 3 (XẤU)
1 Trạng thái Lỏng tự nhiên. Lọc qua lưới 1mm/lỗ dễ dàng Lỏng tự nhiên, có hạt nhỏ li ti, lọc qua lưới 1mm/lỗ được Lỏng, lợn cợn đông không lọc qua lưới 1mm/lỗ được
2 Màu sắc Trắng như sữa Trắng như sữa Trắng như sữa
3 Hàm lượng NH3% trên khối lượng mủ nước Từ 0,01% đến = 0,03 Từ >0,03% đến =0,05% Từ >0,05%
4 Hàm lượng cao su khô (DRC) Từ >27% trở lên Từ >21% đến =27% Từ =21% trở xuống
5 Độ pH của mủ nước Không nhỏ hơn 7 Nhỏ hơn 7 Nhỏ hơn 7
6 Tạp chất Không lẫn tạp chất nhìn thấy được Không lẫn tạp chất nhìn thấy được Có lẫn tạp chất nhìn thấy được
7 Thời gian tiếp nhận mủ Trong ngày Trong ngày Trong ngày

Mủ nước dùng chế biến mủ tờ RSS được nhận từ vườn cây khai thác về, nguyên liệu khi nhận tại lô đã qua hệ thống rây lọc thô, đường kính lỗ 2mm để loại bỏ các chất bẩn như lá cây, dăm cạo… Khi đưa về nhà máy phải đạt các yêu cầu kỹ thuật như sau:

Trong đó: Mủ loại 1 được sử dụng để chế biến mủ tờ RSS

Kiểm tra và xử lý mủ nước
Kiểm tra và xử lý mủ nước

a. Kiểm tra và xử lý mủ nước:

Mủ sau khi tiếp nhận tại nhà máy, sẽ được kiểm tra các chỉ tiêu như:

  • Lượng NH3 còn lại trong mủ <=0,03%
  • Xác định hàm lượng khô DRC của từng xe mủ

b. Xử lý đánh đông

  • Sau khi kiểm tra, mủ đạt yêu cầu sẽ được xả vào hồ chứa, dùng máy khuấy trộn đều trong khoảng thời gian từ 10 -20 phút (một cột mủ cao 1 m sẽ khuấy trong thời gian 10 phút). Sau khi khuấy trộn cần có thời gian để lắng mủ từ 10-15 phút/hồ trước khi xả đánh đông.
  • Hàm lượng DRC của mủ hồ khi đánh đông được quy định từ 23 -28%, nếu cao hơn sẽ được pha loãng theo PL 01.
  • Sau khi pha loãng và khuấy đều, phải lấy mủ để xác định hàm lượng cao su khô của mủ hồ và lượng axit cần đánh đông.
  • Sử dụng axit formic để đánh đông: Pha loãng axit ở tỷ lệ 1-3%. Định mức sử dụng axit formic <=5kg/tấn mủ khô.
  • Phương pháp đánh đông mủ tờ được sử dụng bằng mulo, mủ được xả vào mulo theo hệ thống từ hồ, mương, ống có đường kính = 120 mm, lượng mủ nước xuống mulo từ 150 lít – 190 lít/mulo, lượng axit đánh đông của một mulo được tra theo PL 04.
  • Sau khi cho axit vào mulo, mủ sẽ được cho vào sau đó bằng đường ống, dùng dụng cụ khuấy trộn đều hỗn hợp trong mulo trong thời gian 1 -1,5 phút/mulo, sau đó dùng vòi xịt áp suất cao để đánh tan bọt trên bề mặt mulo và di chuyển bằng xe đẩy đến vị trí quy định.
  • Dùng thau nhôm hớt bọt trên bề mặt mủ để khối mủ được trơn láng, khi mủ đông ổn định từ 1-2 giờ sau sẽ cho nước vào trên bề mặt để bảo quản mủ.
  • Khối mủ đông sẽ được sản xuất trong thời gian đông ổn định >6 giờ và <24 giờ.
  • Khu vực đánh đông và các dụng cụ đánh đông đều được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi hoàn tất công việc.

Tạo tờ và xông sấy

a. Tạo tờ và cán bông

- Máy cưa lạng sử dụng có các chỉ tiêu số liệu như sau:

+ Từ lưỡi cưa đến trục kéo = 4,5 – 6 mm

+ Giữa 2 trục kéo = 3,5 – 4 mm

- Khi cưa lạng có độ dầy từ 8 -10 mm, bề ngang tờ mủ bằng với chiều cao khối mủ khi đánh đông trong mulo.

mủ tờ

- Tờ mủ được di chuyển sang 2 máy cán bông, khe hở của 2 trục cán bông vừa chạm khít vào nhau. Trong khi máy cán hoạt động phải cung cấp nước liên tục trên tờ mủ, dùng để rửa tờ mủ, đồng thời làm giảm độ nóng do ma sát. Tờ mủ di chuyển từ máy cán bông số 1 sang máy cán bông số 2, bằng hệ thống mương nước có tạo áp suất đẩy. Sau khi đi qua 2 máy cán bông, bề dầy tờ mủ đạt từ 3,5 mm – 4,5 mm, thao tác trong giai đoạn này cần nhẹ nhàng và khéo léo, tránh làm đứt mủ và chai bề mặt tờ mủ đã tạo bông.

- Tờ mủ sau khi cán bông sẽ được cắt thành từng tờ, dao cắt phải bén, khoảng cách giữa dao quay và dao cố định phải vừa chạm nhau. Tờ mủ sau khi cắt có độ dài từ 1 – 1,2m.

b. Để ráo và xông sấy

- Tờ mủ sau khi cắt sẽ được phơi trên sào tre, mỗi sào từ 4 -6 tờ, không chồng các tờ mủ lên nhau. Sào tre sẽ được gác lên xe goòng, mỗi xe có từ 80 -90 sào tre, tùy theo từng loại xe goòng và kích thước các lò xông sấy.

- Xe mủ sẽ được chuyển xuống phơi ráo ở môi trường thoáng mát, không có ánh nắng chiếu vào và để từ 6 -12 giờ, sau đó chuyển vào lò xông.

- Quy trình xông sấy kéo dài trong 4 ngày liên tục:

+ Ngày thứ nhất chuyển vào buồng A xông với nhiệt độ 40 -45 độ C

+ Ngày thứ hai chuyển qua buồng B xông với nhiệt độ 45 – 50 độ C

+ Ngày thứ ba chuyển sang buồng C xông với nhiệt độ 50 – 60 độ C

+ Ngày thứ tư chuyển sang buồng D xông với nhiệt độ 60 -65 độ C

+ Ngày thứ năm chuyển ra khỏi buồng xông, kiểm tra mủ chín đều sẽ chuyển qua bộ phận làm kiện.

Có thể xông kéo dài đến ngày thứ năm nếu mủ chưa chín được đồng đều theo yêu cầu, hoặc do điều kiện thời tiết và môi trường thay đổi.

Phân loại và làm kiện

a. Phân loại xếp hạng

- Xe mủ được chuyển vào phòng làm kiện. Công nhân gỡ mủ ra khỏi sào tre, kiểm tra loại bỏ các tạp chất, dăm tre dính vào mủ. Kiểm tra cả hai mặt của tờ mủ, cắt bỏ những phần còn sống hoặc các đốm đen và phân hạng theo quy định tiêu chuẩn.

- Mỗi loại mủ sau khi phân hạng phải được cân theo từng loại riêng theo quy định, mỗi bành mủ có trọng lượng là 111,11 kg kể cả áo bao.

- Kiểm tra tình trạng cân trước khi sử dụng ở mỗi đầu ca sản xuất, mủ được cân xông phải làm kiện hết trong ngày.

b. Làm kiện

- Mủ được xếp vào khuôn theo quy trình như sau:

Ngang 3 tấm, dọc 3 tấm, 1 tấm ở giữa.

Nếp gấp tờ mủ phải sát thùng.

Thêm mủ theo chiều ngang hoặc chiều dọc để bành mủ được cân đối.

Rắc bột tal vào đáy khuôn và mặt khuôn tránh dính

- Dùng xe đẩy khuôn mủ vào máy ép, đậy nắp và chỉnh sửa cho mủ trên khuôn được ngay ngắn.

- Ép lần thứ nhất giảm ½ chiều cao khối mủ rồi xả ra. Điều chỉnh lại vị trí khối mủ rồi ép lần hai đến mức quy định rồi gài móc khuôn ép lại.

- Giữ mủ trong khuôn ép tối thiểu là 6 giờ để cố định bành mủ.

- Sau khi lấy bành mủ ra khỏi khuôn sẽ tiến hành bọc áo cho bành mủ.

- Lớp áo gồm 12 tờ: 4 tờ ngắn, 8 tờ dài, các tờ mủ sẽ được trải đều xung quanh bành mủ và được xăm cho dính vào khối mủ đã ép, sao cho bành mủ trở nên cân đối và vuông vức.

- Sơn bên ngoài bành mủ một lớp sơn trắng bảo quản, sử dụng bình quân 6 kg/tấn mủ khô. Loại sơn bảo quản này được chế biến theo yêu cầu chống thấm và bảo vệ lớp áo ngoài của bành mủ trong quá trình lưu kho và vận chuyển.

- Vẽ ký hiệu nhận dạng lên từng bành mủ theo quy định loại 1, 2, 3…

- Chuyển bành mủ lên mê gỗ có lót lớp tol ngăn cách bằng loại xe đẩy chuyên dụng, một mê tol chứa được 4 bành mủ và được di chuyển vào nơi quy định cho từng chủng loại. Mỗi chồng đặt không quá 5 mê tol.

P.V (tapchicaosu.vn)

Khắc phục một số vấn đề trong chế biến mủ đông tạp

Ảnh minh họa.Ban Công nghiệp VRG vừa có văn bản hướng dẫn một số công ty Tây Nguyên khắc phục một số vấn đề trong dây chuyền chế biến mủ đông tạp nhằm hoạt động ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật và chất lượng sản phẩm.

- Xử lý và phân loại nguyên liệu ban đầu: Khối mủ đông các loại khi tiếp nhận cần được xử lý cán vắt nước qua máy cán thô (máy 360/410) để làm đồng đều độ ngậm nước của các khối mủ đông có kích thước khác nhau. Quá trình này tạo điều kiện tốt khi lưu trữ và giảm mùi hôi. Sau khi cán vắt nước, mủ đông được phân loại theo ngoại quan: mủ đông “tươi” có màu trắng đục và mủ khô ráo có màu nâu; các loại này được lưu trữ theo từng khu vực riêng biệt.

- Lưu trữ trước khi chế biến: Sau khi cán vắt nước và phân loại, nguyên liệu có màu trắng đục (mủ tươi) được lưu trữ ít nhất 15 ngày và nguyên liệu có màu nâu được lưu trữ từ 10 -15 ngày trước khi đưa vào chế biến (lưu trữ theo ngày tuổi).

- Lưu ý trong quá trình lưu trữ:

+ Trong quá trình lưu trữ không phun nước vào khối nguyên liệu (lưu trữ khô); chỉ phun nước trước 1 ngày hoặc trong ca sản xuất để dễ gia công cơ học.

+ Lưu trữ theo nguyên tắc “vào trước ra trước”: Nguyên liệu được ủ trước thì sản xuất trước – nguyên liệu vào sau thì sản xuất sau, nhằm đảm bảo đủ thời gian ủ như đã nêu trên.

- Gia công liên tục và gia công gián đoạn:

+ Gia công liên tục: Phương pháp này được ưu tiên áp dụng, vì đây là phương pháp theo công nghệ chuẩn. Phương pháp này được ưu tiên áp dụng triệt để khi xử lý tốt nguyên liệu ban đầu như đã nêu (cán vắt nước, phân loại, ủ); phương pháp này thường cho kết quả chất lượng tốt về độ chín đều (bay hơi), chỉ tiêu Po, PRI…đồng thời đạt được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (nhân công và năng lượng).

+ Gia công gián đoạn: Trong trường hợp công đoạn cán vắt nước, phân loại và ủ không đạt yêu cầu (nguyên nhân do tổ chức sản xuất, thiếu máy cán thô, phân loại và lưu trữ không đạt yêu cầu…) thì áp dụng phương pháp này (hạn chế).

+ Cán ủ gia công gián đoạn: Cán lần 1 đến máy cán số 5 (sau máy cán 3 trục 2) thì đem tờ ra ủ; sau khi ủ thì nạp lại tại máy số 5 (hoặc 6) để hoàn tất quá trình gia công tạo tờ và tạo hạt.

+ Lưu ý ủ gián đoạn (ủ tờ đã qua gia công lần 1 tại máy số 5): Các tờ được xếp chồng ngay ngắn hoặc cuộn lại; tất cả được lưu trữ theo khu vực có ghi ngày lưu trữ để quản lý theo nguyên tắc FIFO. Trường hợp tờ bị kết dính (do gia công mủ tươi) thì dùng dung dịch thầu dầu phun để chống dính. Việc áp dụng gia công gián đoạn phải rất hạn chế. Chỉ áp dụng khi các điều kiện gia công liên tục chưa được tổ chức tốt.

Theo Tạp chí CSVN

Xác định tổng lượng chất rắn trong mủ cao su thiên nhiên bằng lò vi sóng

Kỹ sư cơ khí Đoàn Trọng Đại công tác tại Xí nghiệp cơ khí chế biến 30/4 - Công ty TNHH MTV cao su Bình Long (thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước) cùng nhóm của mình đã nghiên cứu thành công phương pháp “xác định hàm lượng TSC mủ cao su thiên nhiên bằng lò vi sóng”.


Anh Đoàn Trọng Đại bên sản phẩm của mình

Lâu nay, việc dùng bếp điện hay cân sấy ẩm để xác định TSC (Total solid contant - Tổng lượng chất rắn có trong mủ cao su chảy ra từ miệng cao ở dạng lỏng) trong mủ cao su làm tiêu tốn một lượng điện năng của đơn vị không nhỏ. Nguyên nhân là khi chờ đợi đưa các mẫu tiếp theo vào sấy và thiết bị vẫn hoạt động hết công suất. Ngoài ra, vì số lượng bếp dùng nhiều nên nhiệt lượng tỏa ra phòng làm việc là rất lớn nên công suốt máy điều hòa hay quạt phục vụ cho công nhân hoạt động tối đa, điều này không những chỉ tốn điện năng mà còn ảnh hưởng sức khỏe người lao động. Bên cạnh đó, do máy điều hòa hoạt động nhiều nên khí thải từ đó gây ô nhiễm môi trường hơn, đặc biệt khí này sẽ làm thủng tầng ozon, tốn nhiều nhân công…

Nguyên lý làm việc của lò vi sóng, sấy theo chế độ cài đặt nên kết quả tương đối chính xác, ít phụ thuộc ý thức chủ quan của công nhân. Nếu chúng ta đưa 7 mẫu thử (5-15 gram/mẫu) vào lò vi sóng cho công suất lò 100%, rồi phân thành 3 giai đoạn thời gian khác nhau để lấy mẫu thử chính xác nhất. Thời gian từ 12-14 phút: trạng thái mủ sau khi sấy còn sống nhiều, lấm tấm nhiều hạt đốm trắng. Thời gian từ 15-16 phút, mủ đã chín, tỷ lệ thu hồi gần tương đương tỷ lệ thu hồi của phương pháp cân-đốt-cân. Tuy nhiên, mặt khay mủ có màu còn hơi trắng, kết quả chưa ổn định giữa các lần sấy. Thời gian 17-18 phút, mủ chín đều, mặt mủ có màu hơi sậm, tỷ lệ thu hồi ổn định tương đương với tỷ lệ thu hồi của phương pháp cân-đốt-cân.

“Trong quá trình sử dụng phương pháp cân-đốt-cân thì phải sử dụng 06 bếp điện có công suốt 1000w/bếp hoạt động liên tục vì thời gian nhiệt rất lâu, nhưng nếu sử dụng lò vi sóng chỉ có công suất là 1000w/lò, chỉ hoạt động trong thời gian sấy” - anh Đại nói.

Như vậy, việc chuyển sang xác định TSC trong mủ cao su thiên nhiên bằng lò vi sóng sẽ làm tốc độ giải nhiệt nhanh và đều; đồng thời, làm giảm rất nhiều điện năng trong khi sản xuất, tiết kiệm được nhân công và chi phí.

Nguồn: Vusta.vn 

Hội thị sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 12 Vifotec: Đề tài Phương pháp xác định nhanh tạp chất và Phương pháp xác định nhanh DRC% của mủ nước đã lọt vào vòng chung khảo

Một tin vui vừa đến với nhóm tác giả đề tài “Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%” và cũng là tin vui cho ngành cao su Việt Nam, chúng tôi, những nhà nghiên cứu rất vụi mừng thông qua báo chí để thông báo với quý độc giả quan tâm đến lĩnh vực cao su tin vui này.

Hội đồng giám khảo hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc do Quỹ hỗ trợ sáng tạo Việt Nam - VIFOTEC (được thành lập theo quyết định số 849/QĐ-LHH ngày 4/11/2013) sau 1 tháng làm việc tích cực đã chọn được các giải pháp vào vòng chung khảo và thông qua Ban tổ chức ngày 13/12/2013. Đề tài “Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%” vinh dự đã được ban giảm khảo cuộc thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ 12 (2012-2013) đánh giá cao và đề tài đã lọt vào vòng chung khảo lần này.

Dự kiến Lễ tổng kết và trao giải Hội thi lần thứ 12 vào ngày 31/3/2014 tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội.

“Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%” được các tác giả đưa ra nhằm mục đích làm trong sạch hoá nguồn cao su nguyên liệu. Đây là một phương pháp mới và rất hiệu quả, đem lại sự tự tin cho chất lượng cao su Việt Nam nói chung và hạn chế tối đa thiệt hại do tạp chất gây ra nói riêng.

Từ những tính toán kinh tế trên thì các công ty cao su đặc biệt là các công ty tư nhân đã tìm đến chúng tôi. Cũng từ đây các hợp đồng chuyển giao “Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%” đã được nhóm nghiên cứu chúng tôi chuyển giao cho nhiều công ty và cũng đã được đánh giá rất cao, điển hình như: Nhà máy chế biến Thuận Lợi, Cty TNHH - TM- DV và chế biến Thảo Nguyên, Cty TNHH - MTV Cao su Tân Biên, nhà máy chế biến cao su (Binh đoàn 16)..... Với những thành quả đạt được của đề tài, chủ nhiệm đề tài là Kỹ sư Vũ Đình Thắng, đã được Trung ương Đoàn thanh niên Công sản Hồ Chí Minh trao huy hiệu Tuổi trẻ sáng tạo vào tháng 01/2013 và được tuyên dương trong festival sáng tạo trẻ toàn quốc vào tháng 10 năm 2013 tại thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh.. Ngoài ra tập thể nghiên cứu đã được Tỉnh Bình Phước trao bằng khen giải nhì trong hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bình Phước lần thứ II (2011-2013).

“Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%” như một biện pháp cứu cánh cho các công ty cao su tư nhân tránh được những thiệt hại đáng kể. Theo tính toán của chúng tôi, với giá thu mua trung bình hiện nay là 44 triệu đồng/tấn, nếu doanh nghiệp có công suất 10 nghìn tấn/năm sẽ thiệt hại khoảng 10 tỷ đồng.

Đề tài được chi làm 2 nhánh chính, với các nhiệm vụ khác nhau: Phương pháp xác định nhanh tạp chất, nhằm giúp người thu mua mủ nước phát hiện có gian lận trong mua bán hay không và Phương pháp xác định nhanh DRC% với mục đích phát triển một phương pháp xác định hàm lượng cao su khô không thông qua bảng quy đổi TSC% -> DRC% nhằm giảm thiểu sai số và các yếu tố khách quan cũng như chủ quan ảnh hưởng đến độ chính xác của DRC%.

* Phương pháp xác định nhanh tạp chất là một phương pháp mới, có thể áp dụng rộng rãi trong ngành cao su. Ưu thế lớn nhất của phương pháp này là:

-          Thời gian thực hiện ngắn, chỉ trong vòng 5 phút.

-          Thuốc thử và các phương pháp kết hợp không kén tạp chất (không phụ thuộc vào tính chất của tạp chất).

-          Phương pháp có thể phát hiện hầu hết các tạp chất đưa vào mủ nước.

-          Trang thiết bị đơn giản nhưng hiệu quả

-          Công nhân không cần trình độ cao.

-          Có thể áp dụng trên diện rộng với tất cả các loại hình mua bán mủ nước.

* Phương pháp xác định nhanh DRC% là phương pháp ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm xác định hàm lượng cao su khô một cách chính xác nhất. Đây cũng là một phương pháp mới đối với ngành cao su nước ta. Các ưu điểm lớn của phương pháp này là:

- Thời gian xác định DRC% ngắn, với khoảng thời gian 3 đến 5 phút cho kết quả.

- Thực hiện được đồng loạt trên mọi quy mô

- Trang thiết bị đơn giản, dễ thao tác.

- Công nhân chỉ cần tập huấn khoảng nửa ngày có thể thao tác và tính toán DRC% theo phương pháp một cách thành thạo.

- Đặc biệt phương pháp này không phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan như các phương pháp khác bao gồm:

+ Không phụ thuộc vào giống cây, tuổi cây,..

+ Không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ.

+ Không phụ thuộc vào thổ nhưỡng, phương pháp canh tác.

+ Không phụ thuộc vào tay nghề công nhân nướng mủ.

+ Không phụ thuộc hàm lượng phi cao su.

Thành công nối tiếp thành công, con đường nghiên cứu khoa học luôn rộng mở cho những người đam mê khoa học. Nhóm nghiên cứu trong tháng 12/2013 này đã nhận được biết bao tin vui từ ban tổ chức cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh và thị xã Đồng Xoài – Bình Phước (với giải nhất thị xã và giải nhì ở tỉnh), nay các tác giả lại nhận được thêm tin vui về cuộc thi tâm cỡ quốc gia – Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc do Quỹ hỗ trợ Sáng tạo Việt Nam (VIFOTEC) tổ chức, đây thật sự là tin vui và cũng là bất ngờ lớn với chúng tôi.

Đây cũng là một thành công lớn của riêng nhóm nghiên cứu và cũng là một lần nữa chứng minh tính thực tiễn của đề tài chúng tôi đã thực hiện. Khẳng định qua những cuộc thi tầm cỡ quốc gia, nơi được đánh giá kiểm chứng một cách khắt khe và công tâm của các nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam. Từ những thành tựu đạt được, một lần nữa khẳng định thêm tính đúng đắn cũng như thực tiễn của đề tài “Phương pháp phát hiện nhanh tạp chất và phương pháp xác định nhanh DRC%”“Phương pháp xác định nhanh DRC% trực tiếp từ mủ nước”

Với những thành quả đạt được và qua thực tiễn chứng minh cũng như được chứng minh qua các hội thi sáng tạo kỹ thuật đặc biệt là Hội thi sáng tạo kỹ thuật Toàn quốc lần thứ 12 (2012-2013). Chúng tôi những nhà nghiên cứu trẻ, hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước nói chung và công cuộc xây dựng ngành cao su nói riêng.

Qua đây nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn chân thành đến báo điện tử Caosu.net, toà soạn Tạp chí cao su cũng như các báo khác đã đồng hành cùng chúng tôi, những người tâm huyết với ngành cao su trong thời gian vừa qua.

 

Chủ nhiệm :   Kĩ sư Vũ Đình Thắng - DĐ: 0937.270.882
Thành viên: ThS. Hoàng Hải Hiền, 
KS. Nguyễn Thế Quân, KS. Cao Tiến Dũng

 

Nguồn: Tác giả gửi trực tiếp cho caosu.net

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL