Chuyên trang cao su

Thứ hai, 20/10/2014

Last update:12:28:03 PM GMT

Website caosu.net: KỸ THUẬT CAO SU KHAI THÁC & CHẾ BIẾN

KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN

Cải tiến công nghệ mủ tờ RSS

Đó là nội dung tham luận của Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê được đông đảo các đại biểu quan tâm tại Hội nghị Công nghiệp VRG vừa qua.

argaiv1978

Sản xuất mủ tờ. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hải
Sản xuất mủ tờ. Ảnh minh họa. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hải

Cải tiến kỹ thuật

Năm 2012, trước tình hình thị trường tiêu thụ cao su mậu biên Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê đã từng bước chuyển hướng, tiếp cận thị trường mới, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường; tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm, bao bì nhãn hiệu; thay đổi cơ cấu sản phẩm theo yêu cầu khách hàng.

Vì thế “Quy trình sản xuất mủ tờ RSS bằng công nghệ cưa lạng cải tiến”, nhằm cung cấp sản phẩm mà thị trường cần – là hướng đi mà công ty lựa chọn. Cụ thể những cải tiến công nghệ cơ bản được công ty áp dụng như sau:

Công đoạn đánh đông: Điều chỉnh DRC theo từng thời điểm, từng mùa, tạo ra sự đồng nhất về chất lượng khối mủ đông; áp dụng hệ thống mương đánh đông và mương dẫn mủ được xây dựng chung một khối, tại đầu mương đánh đông tiếp giáp với mương dẫn mủ có các cửa xả đưa khối mủ đông ra mương dẫn mủ đến băng tải tiếp liệu, đưa khối mủ đông vào máy cưa lạng nhằm giảm hao phí nhân công đồng thời khối mủ đông không bị biến dạng về kích thước dẫn đến giảm tỷ lệ khuyết tật đối với các tờ mủ được cắt đầu tiên.

Công đoạn nạp nguyên liệu: Nhờ sự hỗ trợ của băng tải nạp liệu, khối mủ được nạp liệu vào thùng cắt không bị biến dạng, tạo ra các tờ mủ có kích thước và trọng lượng đồng đều, ổn định về chất lượng sản phẩm.

Công đoạn cán tờ: Thay đổi máy cán 5 cặp trục đã làm giảm tối đa serum trong tờ mủ, sản phẩm có màu nâu cánh gián đẹp, tạo tờ mủ mỏng, đồng đều và ổn định lên trên 95%.

Công đoạn phơi tờ mủ: Nhà phơi mủ được lợp bằng tấm lợp composite kết hợp với hệ thống giá đỡ xe goòng bằng thép hình đã tận dụng nhiệt và điều kiện thông thoáng gió trên cả hệ thống phơi, thuận tiện trong việc thoát nước và vệ sinh nhà phơi; việc bố trí thời gian phơi mủ theo mùa cũng góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm: mùa khô tờ mủ phơi bên ngoài 72 giờ, mùa mưa được phơi 48 giờ.

Đặc biệt, do mùa mưa ở Tây Nguyên, độ ẩm không khí cao cần trang bị mỗi giàn phơi một chiếc quạt từ trên xuống và một quạt máy công nghiệp quạt ngang nhằm tăng quá trình thoát hơi nước trong mủ, tạo sự đồng đều và ổn định về chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, công ty đang chạy thí điểm hệ thống hút ẩm cho 2 lò sấy nhằm giảm hàm lượng hơi nước trong mủ, tiết kiệm nhiên liệu, rút ngắn thời gian xông sấy, giàn thiết bị hút ẩm tự động sẽ tự động hút ẩm khi độ ẩm trong lò trên 50%.

Chuẩn bị nạp nguyên liệu. Ảnh minh họa. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hải
Chuẩn bị nạp nguyên liệu. Ảnh minh họa. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hải

Tiếp cận thị trường

Có thể nói, đối với ngành cao su thì việc sản xuất mủ tờ không có gì mới mẻ, nhưng với công ty việc lựa chọn công nghệ sản xuất cũng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, là một đơn vị đi sau, cũng có những thuận lợi nhất định trong việc phân tích ưu khuyết điểm của những công nghệ hiện đang áp dụng để có những chọn lọc, so sánh tìm công nghệ sản xuất phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao.

“Quy trình sản xuất mủ tờ RSS bằng công nghệ cưa lạng cải tiến” được công ty áp dụng từ việc tận dụng toàn bộ nhà xưởng và một số trang thiết bị có sẵn của dây chuyền sản xuất mủ cốm nước công suất 3.000 tấn/năm không sử dụng để đầu tư, cải tạo xây dựng dây chuyền sản xuất mủ tờ RSS.

Từ những cải tiến công nghệ cưa lạng được áp dụng, cùng với sự kiểm soát, xử lý tốt nguyên liệu mủ nước từ vườn cây về nhà máy và sự kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trên từng công đoạn chế biến, công ty đã đạt được những thành quả trong sản xuất mủ tờ xông khói RSS – căn cứ phân hạng cao su tờ xông khói theo yêu cầu ngoại quan và các chỉ tiêu hóa lý theo TCCS 105:2009 do VRG ban hành. Sản phẩm mủ tờ RSS do công ty sản xuất đạt cấp hạng RSS 1 trên 60% sản phẩm sản xuất; đặc biệt, cấp RSS 3 có thể chiếm trên 95% sản phẩm sản xuất.

Nguyễn Lý (tapchicaosu.vn)

Nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết bị chế biến

Những năm qua, do tình hình chế biến của các nhà máy trong TCT Cao su Đồng Nai đã đi vào ổn định, hoạt động không hết công suất chế biến do sản lượng giảm vì thanh lý vườn cây, XN Cơ khí Vận tải đã tập trung khai thác thêm công việc từ các đơn vị ngoài TCT về lĩnh vực cơ khí chế biến mủ cao su để ổn định việc làm cho người lao động.

XN đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KHKT vào lĩnh vực cơ khí chế tạo nhằm mục đích nâng cao chất lượng, độ bền vững của thiết bị chế biến cao su, tiết giảm mức hao phí sức lao động cũng như chi phí tiêu hao nhiệt lượng, điện năng, giảm giá thành chế biến sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu về đa dạng hóa sản phẩm sơ chế cao su.

Sản xuất mủ tạp tại Nhà máy chế biến TCT CS Đồng Nai. Ảnh: Tùng Châu

Sản xuất mủ tạp tại Nhà máy chế biến TCT CS Đồng Nai.
Ảnh: Tùng Châu

Đặc biệt, với lò sấy mủ do XN thiết kế chế tạo và lắp đặt, hiệu quả lớn nhất là giảm được sự tiêu hao nhiên liệu so với định mức hiện hữu. Đối với lò sấy mủ tinh có công suất 2,5 tấn/giờ mức tiêu hao 23-24 lít/tấn sản phẩm; lò sấy mủ tạp công suất 2 tấn/giờ mức tiêu hao nhiên liệu 30-31 lít/ tấn sản phẩm đồng thời giảm được mức tiêu hao điện năng do không cần thiết phải vận hành quạt nguội. Trong điều kiện hiện nay, việc tiết giảm được chi phí nhiên liệu lò sấy là rất cần thiết, góp phần vào việc giảm giá thành trong SXKD.

Bằng công nghệ chế biến mủ đất, XN đã chế tạo được máy nhai mủ đất hoạt động rất có hiệu quả và đảm bảo độ bền vững. Với thế mạnh và xu hướng hiện nay, XN đang tập trung nghiên cứu thiết kế dây chuyền công nghệ chế biến mủ tờ theo hướng khoa học, giảm bớt công đoạn thủ công, tiết giảm sức lao động để có thể thực hiện thiết kế chế tạo và lắp đặt cho các NM chế biến mủ tờ trong tương lai.

Trần Đức Lập (tapchicaosu.vn)

Quy trình sản xuất mủ tờ của công ty cao su Lộc Ninh

Công nghệ chế biến mủ tờ của công ty được thừa kế từ thời Pháp. Bằng việc cải tạo đưa vào sản xuất từ năm 2003, có thể nói đây là mặt hàng thủ công truyền thống tới nay luôn nhận được sự ưu ái chọn lựa của khách hàng. Trang Kỹ thuật Cao su kỳ này xin giới thiệu quy trình chế biến mủ tờ của Công ty TNHH MTV Cao su Lộc Ninh.

Yêu cầu kỹ thuật đối với mủ nước

STT
CHỈ TIÊU
YÊU CẦU KỸ THUẬT
LOẠI 1 (TỐT) LOẠI 2 (TRUNG BÌNH) LOẠI 3 (XẤU)
1 Trạng thái Lỏng tự nhiên. Lọc qua lưới 1mm/lỗ dễ dàng Lỏng tự nhiên, có hạt nhỏ li ti, lọc qua lưới 1mm/lỗ được Lỏng, lợn cợn đông không lọc qua lưới 1mm/lỗ được
2 Màu sắc Trắng như sữa Trắng như sữa Trắng như sữa
3 Hàm lượng NH3% trên khối lượng mủ nước Từ 0,01% đến = 0,03 Từ >0,03% đến =0,05% Từ >0,05%
4 Hàm lượng cao su khô (DRC) Từ >27% trở lên Từ >21% đến =27% Từ =21% trở xuống
5 Độ pH của mủ nước Không nhỏ hơn 7 Nhỏ hơn 7 Nhỏ hơn 7
6 Tạp chất Không lẫn tạp chất nhìn thấy được Không lẫn tạp chất nhìn thấy được Có lẫn tạp chất nhìn thấy được
7 Thời gian tiếp nhận mủ Trong ngày Trong ngày Trong ngày

Mủ nước dùng chế biến mủ tờ RSS được nhận từ vườn cây khai thác về, nguyên liệu khi nhận tại lô đã qua hệ thống rây lọc thô, đường kính lỗ 2mm để loại bỏ các chất bẩn như lá cây, dăm cạo… Khi đưa về nhà máy phải đạt các yêu cầu kỹ thuật như sau:

Trong đó: Mủ loại 1 được sử dụng để chế biến mủ tờ RSS

Kiểm tra và xử lý mủ nước
Kiểm tra và xử lý mủ nước

a. Kiểm tra và xử lý mủ nước:

Mủ sau khi tiếp nhận tại nhà máy, sẽ được kiểm tra các chỉ tiêu như:

  • Lượng NH3 còn lại trong mủ <=0,03%
  • Xác định hàm lượng khô DRC của từng xe mủ

b. Xử lý đánh đông

  • Sau khi kiểm tra, mủ đạt yêu cầu sẽ được xả vào hồ chứa, dùng máy khuấy trộn đều trong khoảng thời gian từ 10 -20 phút (một cột mủ cao 1 m sẽ khuấy trong thời gian 10 phút). Sau khi khuấy trộn cần có thời gian để lắng mủ từ 10-15 phút/hồ trước khi xả đánh đông.
  • Hàm lượng DRC của mủ hồ khi đánh đông được quy định từ 23 -28%, nếu cao hơn sẽ được pha loãng theo PL 01.
  • Sau khi pha loãng và khuấy đều, phải lấy mủ để xác định hàm lượng cao su khô của mủ hồ và lượng axit cần đánh đông.
  • Sử dụng axit formic để đánh đông: Pha loãng axit ở tỷ lệ 1-3%. Định mức sử dụng axit formic <=5kg/tấn mủ khô.
  • Phương pháp đánh đông mủ tờ được sử dụng bằng mulo, mủ được xả vào mulo theo hệ thống từ hồ, mương, ống có đường kính = 120 mm, lượng mủ nước xuống mulo từ 150 lít – 190 lít/mulo, lượng axit đánh đông của một mulo được tra theo PL 04.
  • Sau khi cho axit vào mulo, mủ sẽ được cho vào sau đó bằng đường ống, dùng dụng cụ khuấy trộn đều hỗn hợp trong mulo trong thời gian 1 -1,5 phút/mulo, sau đó dùng vòi xịt áp suất cao để đánh tan bọt trên bề mặt mulo và di chuyển bằng xe đẩy đến vị trí quy định.
  • Dùng thau nhôm hớt bọt trên bề mặt mủ để khối mủ được trơn láng, khi mủ đông ổn định từ 1-2 giờ sau sẽ cho nước vào trên bề mặt để bảo quản mủ.
  • Khối mủ đông sẽ được sản xuất trong thời gian đông ổn định >6 giờ và <24 giờ.
  • Khu vực đánh đông và các dụng cụ đánh đông đều được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi hoàn tất công việc.

Tạo tờ và xông sấy

a. Tạo tờ và cán bông

- Máy cưa lạng sử dụng có các chỉ tiêu số liệu như sau:

+ Từ lưỡi cưa đến trục kéo = 4,5 – 6 mm

+ Giữa 2 trục kéo = 3,5 – 4 mm

- Khi cưa lạng có độ dầy từ 8 -10 mm, bề ngang tờ mủ bằng với chiều cao khối mủ khi đánh đông trong mulo.

mủ tờ

- Tờ mủ được di chuyển sang 2 máy cán bông, khe hở của 2 trục cán bông vừa chạm khít vào nhau. Trong khi máy cán hoạt động phải cung cấp nước liên tục trên tờ mủ, dùng để rửa tờ mủ, đồng thời làm giảm độ nóng do ma sát. Tờ mủ di chuyển từ máy cán bông số 1 sang máy cán bông số 2, bằng hệ thống mương nước có tạo áp suất đẩy. Sau khi đi qua 2 máy cán bông, bề dầy tờ mủ đạt từ 3,5 mm – 4,5 mm, thao tác trong giai đoạn này cần nhẹ nhàng và khéo léo, tránh làm đứt mủ và chai bề mặt tờ mủ đã tạo bông.

- Tờ mủ sau khi cán bông sẽ được cắt thành từng tờ, dao cắt phải bén, khoảng cách giữa dao quay và dao cố định phải vừa chạm nhau. Tờ mủ sau khi cắt có độ dài từ 1 – 1,2m.

b. Để ráo và xông sấy

- Tờ mủ sau khi cắt sẽ được phơi trên sào tre, mỗi sào từ 4 -6 tờ, không chồng các tờ mủ lên nhau. Sào tre sẽ được gác lên xe goòng, mỗi xe có từ 80 -90 sào tre, tùy theo từng loại xe goòng và kích thước các lò xông sấy.

- Xe mủ sẽ được chuyển xuống phơi ráo ở môi trường thoáng mát, không có ánh nắng chiếu vào và để từ 6 -12 giờ, sau đó chuyển vào lò xông.

- Quy trình xông sấy kéo dài trong 4 ngày liên tục:

+ Ngày thứ nhất chuyển vào buồng A xông với nhiệt độ 40 -45 độ C

+ Ngày thứ hai chuyển qua buồng B xông với nhiệt độ 45 – 50 độ C

+ Ngày thứ ba chuyển sang buồng C xông với nhiệt độ 50 – 60 độ C

+ Ngày thứ tư chuyển sang buồng D xông với nhiệt độ 60 -65 độ C

+ Ngày thứ năm chuyển ra khỏi buồng xông, kiểm tra mủ chín đều sẽ chuyển qua bộ phận làm kiện.

Có thể xông kéo dài đến ngày thứ năm nếu mủ chưa chín được đồng đều theo yêu cầu, hoặc do điều kiện thời tiết và môi trường thay đổi.

Phân loại và làm kiện

a. Phân loại xếp hạng

- Xe mủ được chuyển vào phòng làm kiện. Công nhân gỡ mủ ra khỏi sào tre, kiểm tra loại bỏ các tạp chất, dăm tre dính vào mủ. Kiểm tra cả hai mặt của tờ mủ, cắt bỏ những phần còn sống hoặc các đốm đen và phân hạng theo quy định tiêu chuẩn.

- Mỗi loại mủ sau khi phân hạng phải được cân theo từng loại riêng theo quy định, mỗi bành mủ có trọng lượng là 111,11 kg kể cả áo bao.

- Kiểm tra tình trạng cân trước khi sử dụng ở mỗi đầu ca sản xuất, mủ được cân xông phải làm kiện hết trong ngày.

b. Làm kiện

- Mủ được xếp vào khuôn theo quy trình như sau:

Ngang 3 tấm, dọc 3 tấm, 1 tấm ở giữa.

Nếp gấp tờ mủ phải sát thùng.

Thêm mủ theo chiều ngang hoặc chiều dọc để bành mủ được cân đối.

Rắc bột tal vào đáy khuôn và mặt khuôn tránh dính

- Dùng xe đẩy khuôn mủ vào máy ép, đậy nắp và chỉnh sửa cho mủ trên khuôn được ngay ngắn.

- Ép lần thứ nhất giảm ½ chiều cao khối mủ rồi xả ra. Điều chỉnh lại vị trí khối mủ rồi ép lần hai đến mức quy định rồi gài móc khuôn ép lại.

- Giữ mủ trong khuôn ép tối thiểu là 6 giờ để cố định bành mủ.

- Sau khi lấy bành mủ ra khỏi khuôn sẽ tiến hành bọc áo cho bành mủ.

- Lớp áo gồm 12 tờ: 4 tờ ngắn, 8 tờ dài, các tờ mủ sẽ được trải đều xung quanh bành mủ và được xăm cho dính vào khối mủ đã ép, sao cho bành mủ trở nên cân đối và vuông vức.

- Sơn bên ngoài bành mủ một lớp sơn trắng bảo quản, sử dụng bình quân 6 kg/tấn mủ khô. Loại sơn bảo quản này được chế biến theo yêu cầu chống thấm và bảo vệ lớp áo ngoài của bành mủ trong quá trình lưu kho và vận chuyển.

- Vẽ ký hiệu nhận dạng lên từng bành mủ theo quy định loại 1, 2, 3…

- Chuyển bành mủ lên mê gỗ có lót lớp tol ngăn cách bằng loại xe đẩy chuyên dụng, một mê tol chứa được 4 bành mủ và được di chuyển vào nơi quy định cho từng chủng loại. Mỗi chồng đặt không quá 5 mê tol.

P.V (tapchicaosu.vn)

Khắc phục một số vấn đề trong chế biến mủ đông tạp

Ảnh minh họa.Ban Công nghiệp VRG vừa có văn bản hướng dẫn một số công ty Tây Nguyên khắc phục một số vấn đề trong dây chuyền chế biến mủ đông tạp nhằm hoạt động ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật và chất lượng sản phẩm.

- Xử lý và phân loại nguyên liệu ban đầu: Khối mủ đông các loại khi tiếp nhận cần được xử lý cán vắt nước qua máy cán thô (máy 360/410) để làm đồng đều độ ngậm nước của các khối mủ đông có kích thước khác nhau. Quá trình này tạo điều kiện tốt khi lưu trữ và giảm mùi hôi. Sau khi cán vắt nước, mủ đông được phân loại theo ngoại quan: mủ đông “tươi” có màu trắng đục và mủ khô ráo có màu nâu; các loại này được lưu trữ theo từng khu vực riêng biệt.

- Lưu trữ trước khi chế biến: Sau khi cán vắt nước và phân loại, nguyên liệu có màu trắng đục (mủ tươi) được lưu trữ ít nhất 15 ngày và nguyên liệu có màu nâu được lưu trữ từ 10 -15 ngày trước khi đưa vào chế biến (lưu trữ theo ngày tuổi).

- Lưu ý trong quá trình lưu trữ:

+ Trong quá trình lưu trữ không phun nước vào khối nguyên liệu (lưu trữ khô); chỉ phun nước trước 1 ngày hoặc trong ca sản xuất để dễ gia công cơ học.

+ Lưu trữ theo nguyên tắc “vào trước ra trước”: Nguyên liệu được ủ trước thì sản xuất trước – nguyên liệu vào sau thì sản xuất sau, nhằm đảm bảo đủ thời gian ủ như đã nêu trên.

- Gia công liên tục và gia công gián đoạn:

+ Gia công liên tục: Phương pháp này được ưu tiên áp dụng, vì đây là phương pháp theo công nghệ chuẩn. Phương pháp này được ưu tiên áp dụng triệt để khi xử lý tốt nguyên liệu ban đầu như đã nêu (cán vắt nước, phân loại, ủ); phương pháp này thường cho kết quả chất lượng tốt về độ chín đều (bay hơi), chỉ tiêu Po, PRI…đồng thời đạt được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (nhân công và năng lượng).

+ Gia công gián đoạn: Trong trường hợp công đoạn cán vắt nước, phân loại và ủ không đạt yêu cầu (nguyên nhân do tổ chức sản xuất, thiếu máy cán thô, phân loại và lưu trữ không đạt yêu cầu…) thì áp dụng phương pháp này (hạn chế).

+ Cán ủ gia công gián đoạn: Cán lần 1 đến máy cán số 5 (sau máy cán 3 trục 2) thì đem tờ ra ủ; sau khi ủ thì nạp lại tại máy số 5 (hoặc 6) để hoàn tất quá trình gia công tạo tờ và tạo hạt.

+ Lưu ý ủ gián đoạn (ủ tờ đã qua gia công lần 1 tại máy số 5): Các tờ được xếp chồng ngay ngắn hoặc cuộn lại; tất cả được lưu trữ theo khu vực có ghi ngày lưu trữ để quản lý theo nguyên tắc FIFO. Trường hợp tờ bị kết dính (do gia công mủ tươi) thì dùng dung dịch thầu dầu phun để chống dính. Việc áp dụng gia công gián đoạn phải rất hạn chế. Chỉ áp dụng khi các điều kiện gia công liên tục chưa được tổ chức tốt.

Theo Tạp chí CSVN

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL