Chuyên trang cao su

Thứ sáu, 31/10/2014

Last update:08:56:42 AM GMT

Website caosu.net: KINH NGHIỆM - GIẢI PHÁP KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM

Phương pháp tạo tán vườn cây KTCB tại cao su Tây Ninh

Ảnh minh họa.Sau nhiều năm thực hiện việc tạo tán trên vườn cây KTCB trồng tái canh năm 2005 và 2010 tại NT Bến Củi, Công ty CPCS Tây Ninh đã nhận nhiều kết quả tích cực từ thực tế. Cây cao su có thân cao, tán rộng, nhu cầu không gian lớn để phát triển tán lá tự do. Khi được chọn lọc trồng với mật độ dày, thì khoảng không gian cho sự phát triển của mỗi cá thể bị hạn chế tối đa. Do đó, ưu thế ngọn càng được phát huy để cạnh tranh ánh sáng làm cho thân chính vươn cao, cành ngang tự hủy, tạo thế cây mất cân đối dễ đổ ngã do gió.

argaiv1329

Đặc biệt, với những dòng vô tính (DVT) phân cành muộn như LH 88/236, LH 90/952, RRIV I… do ưu thế ngọn mạnh có khuynh hướng vươn cao, tán hẹp dễ đổ ngã bởi gió. Nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay, nguy cơ vườn cây cao su bị thiệt do gió bão là rất lớn.  Đối với cây trưởng thành đưa vào khai thác có tán hẹp, thân nhỏ do không có được một cành ở tầng dưới thì vỏ mỏng, sản lượng thấp.

Đó là những lý do tại sao phải can thiệp tạo tán cho cây kiến thiết cơ bản (KTCB) để khi trưởng thành đưa vào khai thác có thể cây vững, cân đối giữa bề vòng thân cây, bộ tán hợp lý, thân to ít gãy đổ. Đồng thời, đạt mục đích duy trì mật độ cả chu kỳ, sản lượng mủ cao và sản lượng gỗ khai thác lớn khi thanh lý.

Một số biện pháp được giới thiệu trước đây như: trùm túi PE hoặc cột túm tầng lá trên cùng tỏ ra không khả thi (thao tác phức tạp, tốn công). Vườn cây tiểu điền được cắt ngang thân chính ở độ cao 2,5-3 m cũng không đem lại hiệu quả mong muốn. Đặc biệt, với DVT VM515 gãy đổ rất nhiều do lốc xoáy. Mỗi năm NT Bến Củi mất đi 40-50 ha cây kinh doanh, làm mật độ cây cạo thấp, sụt giảm năng suất nghiêm trọng.

Xuất phát từ tình hình trên, NT Bến Củi đã thực hiện việc tạo tán trên vườn cây KTCB trồng tái canh năm 2005 và 2010. Sau nhiều năm thực hiện, Công ty CPCS Tây Ninh ghi nhận nhiều kết quả tích cực từ thực tế.

Về phương pháp tạo tán, đối với DVT phân cành sớm như PB 255, LH 83/85, PB 260 độ cao phân cành là 3-3,5 m. Với DVT này, có một tỷ lệ khoảng 20% phân cành từ 2,5 m. Ở độ cao này không cắt cành ngang, để đa số phân cành đạt 2-3 tầng thì cắt ngọn chính để khống chế ưu thế ngọn.

Tại vị trí cắt ngọn sau thời gian sẽ có 2-3 cành khác phát triển thành ưu thế ngọn mới, nhưng không mạnh vì ưu thế đó được chia cho 2-3 ngọn nhỏ thì sau này tán sẽ nhẹ hơn. Trong thời gian khống chế ưu thế ngọn đã có sẵn 2-3 tầng cành sẽ không gây sốc cho quá trình sinh trưởng tăng vanh thân cây, mà còn tạo nên một bộ tán sum suê ở năm 3-4 thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tăng vanh tạo thân trụ tốt, vườn cây sẽ giao tán cuối năm thứ 3. Một trong những tầng cành này sẽ có một cành ưu thế phát triển mạnh tạo thành cành lớn sau này cho giai đoạn trưởng thành khai thác, lúc này tán sẽ có ít nhất 2-3 cành chính tồn tại, trong khi các cành nhỏ, yếu sẽ tự hủy.

Đối với DVT phân cành muộn, khi tầng lá ngọn đạt độ cao 3-3,5 m, cắt bỏ tầng lá ngọn để lại 02 lá, từ 2 mầm của 2 lá này và mầm vảy cá sẽ cho 2-3 chồi ngọn thay thế ngọn chính. Những cành này sẽ mọc lệch nhau vì đoạn giữa 2 tầng lá mắt thưa. Chính sự mọc lệch này sẽ tạo thế bền chắc, tránh hiện tượng tét dọc thân cây. Nếu cắt bỏ hết tầng lá trên cùng, sát tầng lá thứ hai sẽ xảy ra hiện tượng nảy chồi tập trung tại một điểm làm nặng tán dễ cong gãy thân chính ngay trong giai đoạn non hoặc tét dọc thân cây.

Việc cắt ngọn phân cành chủ động ít nhiều sẽ làm nặng tán, giai đoạn đầu làm nghiêng ngọn, nếu không có bước xử lý tiếp theo sẽ làm thân cây bị cong dẫn đến gãy. Để khắc phục hiện tượng cong, gãy phải tỉa cành nhỏ bỏ bớt lá về phía cong. Tuyệt đối không cắt bỏ hết 2-3 cành chính, vì làm như vậy ảnh hưởng quá trình sinh trưởng của cây.

Về độ cao cắt ngọn phải cân nhắc để đạt mục tiêu: Cành mới thay thế ngọn không vươn dài làm mất cân đối thân và tán. Đoạn thân chính là trữ lượng vỏ kinh tế khai thác đúng chu kỳ. Nếu cắt ngọn ở độ cao nhỏ hơn hoặc bằng 3 m thì trữ lượng vỏ không đủ khai thác 20 năm vì càng lên cao khó khống chế hao dăm. Nếu cắt ngọn thấp hơn nữa thì cành thay thế sẽ vươn dài làm mất cân đối giữa thân và tán làm cây dễ gãy đổ. Độ cao cắt ngọn tốt nhất là 3,5 – 4 m để vừa đảm bảo trữ lượng vỏ cạo 20 năm, vừa có tán lá cân đối với thân vì cành thay thế nhỏ tán nhẹ.

B.N (theo Phòng KTNN Công ty CPCS Tây Ninh)

Thách thức từ phòng trừ bệnh hại cây cao su

Ảnh minh họa.Cũng như các loại cây trồng nông nghiệp khác, bệnh hại tác động rất lớn đến việc thuần hóa cây cao su. Ngày nay đã có hơn 100 mầm bệnh được xác định có khả năng tấn công vào các vườn cao su.Tuy nhiên có 6 bệnh là tác nhân quan trọng làm giảm sản lượng cao su tại các quốc gia Đông Nam Á. Đó là các bệnh Olidium Leaf Fall (OLF), Corynespora Leaf Fall (CLF), Gloeosporium Leaf Fall (GLF), Phytophthora Leaf Fall (PLF), bệnh thối vỏ Bark Rot (BR) và bệnh rễ trắng White Root Disease (WRD).

Sự phân bố và mức độ trầm trọng của các bệnh này trong một quốc gia đặc biệt phụ thuộc vào giống, địa hình, thời tiết, tiểu khí hậu và loài sinh lý của mầm bệnh hiện diện tại địa phương. Hiện nay bệnh rụng lá Nam Mỹ (SALB) vẫn còn là loại bệnh lá đáng sợ nhất ở khu vực này.

Trong các năm qua, tình hình nhiễm bệnh của các loại bệnh này đã thay đổi đáng kể. Các bệnh truyền thống như OLF, GLF, PLF và bệnh thối vỏ đã không còn ảnh hưởng lớn trong trồng cao su ở một số quốc gia. Nguyên do là đã có các giống chống chịu bệnh được nghiên cứu và đưa vào áp dụng. Tuy nhiên một số giống cao sản mới không chống chịu lại bệnh mới và các bệnh này lan truyền sang các giống truyền thống. Ví dụ như bệnh CLF lan rộng vào cuối những năm 1980 đã tấn công các giống RRIC 103 và RRIM 752.

Bởi vậy nhằm hướng đến phát triển cao su bền vững cần có các cách thức và phương tiện để các nhà trồng cao su, nhà nghiên cứu, nhà lai tạo giống có biện pháp khắc phục.

Sự phức tạp trong chẩn đoán

Sự phức tạp trong xác định triệu chứng trong một số bệnh hại quan trọng đã dẫn đến việc nhận định sai các bệnh của cây cao su. Nét độc nhất của corynespora cassiicola, tác nhân gây bệnh rụng lá Corynespora (CLF) là sự thay đổi trong phát sinh triệu chứng phụ thuộc vào một số yếu tố khác nhau. Sự đa dạng phát sinh triệu chứng này đã trở thành một hạn chế nghiêm trọng để xác định bệnh hại trên thực địa. Xu thế đó cũng xảy ra đối với các bệnh OLF, GLF, PLF, SALB, WRD và nhiều loại bệnh khác. Hệ quả là các nhà trồng trọt và cán bộ khuyến nông bị lúng túng trong việc xác định nguyên nhân mầm bệnh.

Loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả

Thỉnh thoảng, các loại thuốc bảo vệ thực vật bị các cơ quan hữu quan khuyến cáo loại bỏ do tính độc hại cao cho động vật có vú và nguy hiểm cho môi trường. Trên cơ sở này, các nhà bảo vệ thực vật phải thường xuyên và tích cực quan tâm đến việc chọn lọc các loại thuốc này.

Các nhận xét trái chiều khi tuyển chọn giống kháng bệnh

Thường các nhà bảo vệ thực vật kiểm tra các giống mới về mặt kháng bệnh qua nhiều giai đoạn trước khi đưa ra trồng đại trà. Và họ phải cẩn trọng khi đưa ra các giống mới vì nếu chỉ tuyển chọn trong giai đoạn kiến thiết cơ bản có thể đưa đến các nhận xét sai lệch. Các đặc tính phụ ra hoa, hình thành vỏ…cũng đóng vai trò quan trọng trong biểu hiện của giống mẫn cảm chống chịu bệnh ở cao su giai đoạn trưởng thành.

Sự xâm lấn của các mầm bệnh mới

Thách thức quan trọng nhất mà các nhà bảo vệ thực vật phải đối mặt là sự xâm lấn của các mầm bệnh mới. Ví dụ tiêu biểu cho thiệt hại nghiêm trọng do bệnh mới trong môi trường mới là bệnh rụng lá CLF phát tán vào những năm cuối thế kỷ 20. Các đợt dịch lây lan do xâm lấn của mầm bệnh mới có nguyên do từ các cây chủ khác hiện diện trong từng quốc gia, các quốc gia láng giềng và các lục địa khác. Việc kiểm soát bệnh sẽ phải tiến hành đều đặn và các nhà thực vật học phải theo dõi đầy đủ về quản lý các mầm bệnh trong thế giới cao su.

Thách thức từ phun xịt thuốc trị bệnh

Kiểm soát bằng hóa chất là một công nghệ đã được chấp nhận rộng rãi trong quản lý các bệnh hại cao su từ đầu thế kỷ 20. Thách thức chủ yếu liên quan đến công nghệ này là chiều cao của cây cao su từ 20-30m, mật độ tán cao, các chi phí phát sinh trong mua sắm trang thiết bị phun xịt có công năng mạnh, chi phí khổng lồ cho thuốc phun, vùng đất không bằng phẳng, ô nhiễm môi trường và nguy hại đến sức khỏe.

Nhờ nỗ lực của các nhà lai tạo giống và các nhà bảo vệ thực vật, trong các quốc gia trồng cao su hàng đầu hiện nay đã đề nghị áp dụng giống kháng bệnh là cách hữu hiệu nhất. Xu thế tái canh hiện nay cho thấy rằng chỉ có các giống kháng bệnh mới được các nhà trồng tỉa chấp nhận. Giống RRIC 100, giống lai tạo nổi tiếng của Sri Lanka được biết đến do có các gen chống chịu bệnh hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các chương trình lai tạo tại các quốc gia trồng cao su để chuyển tính kháng bệnh cho các giống truyền thống cao sản.

Biến đổi khí hậu - Mối đe dọa mới

Biến đổi khí hậu là mối đe dọa mới do thời tiết đóng vai trò quan trọng trong phát triển và phát tán bệnh hại cho cây cao su. Các dẫn chứng từ xưa đã được nhìn thấy như đối với các bệnh rụng lá OLF, GLF, PLF, South American LF, thối vỏ và WRD kể từ giữa thế kỷ 20. Hiện nay cũng đã có nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về ảnh hưởng của thời tiết đối với bệnh rụng lá CLF, một loại bệnh nguy hiểm có nguồn gốc mới đây.

P.V (Theo báo cáo của Tiến sĩ C.K Jayasinghe, chuyên viên IRRDB về bảo vệ thực vật)
Nguồn: Tạp chí cao su Việt Nam

Giống cao su chịu lạnh phát triển ổn định qua mùa đông 2011

Giống cao su chịu lạnh được chuẩn bị đảm bảo phục vụ cho việc trồng trong vụ xuân 2012.HGĐT- Năm 2011, với chủ trương trồng tái canh các diện tích cao su bằng các loại giống cao su chịu lạnh, Công ty cổ phần Cao su Hà Giang đã triển khai trồng được 600ha cao su thuộc các giống IAN 873 và VNg 774.

Trong đó, vùng Bắc Quang trồng được trên 252ha, vùng Quang Bình trồng được 180ha và vùng Vị Xuyên trồng được 167ha. Với việc thay đổi giống và triển khai tốt quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc, vụ đông năm 2011, các diện tích cao su đã trồng tái canh ở 3 huyện Bắc Quang, Vị Xuyên và Quang Bình đều có sự phát triển ổn định. Qua đợt kiểm tra thực tế tại Hà Giang và một số tỉnh miền núi phía Bắc, ông Nguyễn Hồng Phú, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Cao su Việt Nam khẳng định, mùa đông năm nay gần như không ảnh hưởng gì đến cây cao su ở Hà Giang cũng như ở các địa phương phía Bắc...

Đặc biệt, như chúng tôi đã thông tin về giống cao su IAN 873 trồng từ năm 2008 tại 2 vườn trồng thực nghiệm ở xã Vô Điếm (Bắc Quang) và xã Trung Thành (Vị Xuyên), qua mùa đông năm 2011, cây vẫn sinh trưởng rất tốt. Đến nay, theo ghi nhận ở vườn thực nghiệm xã Vô Điếm, nơi có khoảng 1ha cao su giống IAN873 đang phát triển khá đều với chiều cao trung bình khoảng 5m trở lên, đường vành thân cây đạt 25cm. Đây là mùa đông thứ 4 mà các cây thuộc giống IAN 873 đã trải qua tại 2 vườn thực nghiệm, điều này cho thấy sự thích nghi rất tốt của giống này. Trên cơ sở đó, theo đánh giá của một số chuyên gia trong ngành cao su thì đây chính là lời giải rất rõ về loại giống thích hợp với vùng Hà Giang. 

Qua làm việc và thống nhất giữa Tập Đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam với UBND tỉnh từ đầu năm nay, một chủ trương được đưa ra đó là tiếp tục triển khai trồng cây cao su theo hình thức sản xuất thử nghiệm với quy mô sản xuất phù hợp với một công ty. Trên tinh thần đó, về phía Công ty cổ phần Cao su Hà Giang cho biết đã xây dựng kế hoạch sản xuất năm 2012 với diện tích trồng mới đạt 558ha các giống chịu lạnh là IAN 873 và VNg 774. Trong đó, vùng sản xuất huyện Vị Xuyên sẽ trồng trên 181ha; vùng Bắc Quang trồng trên 130ha và vùng Quang Bình trồng trên 245ha. Việc trồng mới sẽ được tiến hành trong 2 vụ, trong đó vụ xuân sẽ trồng nhiều hơn, đạt khoảng 350ha. Để thực hiện kế hoạch đề ra, hiện nay Công ty cổ phần Cao su đã chuẩn bị được 190.000 cây giống đảm bảo 2 tầng lá ổn định phục vụ cho trồng vụ xuân năm nay. Đến khoảng giữa tháng 3.2012, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam sẽ cung cấp tiếp cho Công ty khoảng 30 vạn cây giống VNg 774, IAN 873 và VNg 772 để công ty cắm bầu ươm tại các vườn ươm, phục vụ cho việc trồng mới. 

HUY TOÁN (baohagiang.vn)

"Giải mã" năng suất vườn cây khu vực Tây Nguyên

Ảnh minh họa.Dù Tây Nguyên (TN) là vùng đất đỏ, nhưng năng suất (NS) vườn cây bình quân (BQ) chung vẫn thấp hơn so với toàn VRG và các khu vực khác. Theo bảng số liệu của Viện Nghiên cứu CSVN theo dõi một số công ty TN trong thời gian qua thì NS của vườn cây có tuổi cạo từ 1 - 5 năm chỉ có BQ trên 1,3 tấn/ha, nhóm tuổi cạo từ năm thứ 6 -10 có NSBQ 1,427 tấn/ha và nhóm cuối cùng khi đưa vào cạo úp đã tăng vọt lên trên 2 tấn/ha. Vậy nguyên nhân do đâu?

Năng suất thực tế thấp hơn so với tiềm năng

Những năm gần đây tình hình đã được cải thiện đáng kể. Trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, NSBQ của khu vực này đã tăng được 340 kg/ha từ 0,98 tấn/ha năm 1999 lên 1,32 tấn/ha năm 2009, mức gia tăng BQ trong năm khoảng 3,8% so với 4,4% của khu vực Đông Nam bộ (ĐNB).

Theo bảng số liệu của Viện Nghiên cứu CSVN theo dõi một số công ty TN trong thời gian qua thì NS của vườn cây có tuổi cạo từ 1 - 5 năm chỉ có BQ trên 1,3 tấn/ha, nhóm tuổi cạo từ năm thứ 6 -10 có NSBQ 1,427 tấn/ha và nhóm cuối cùng khi đưa vào cạo úp đã tăng vọt lên trên 2 tấn/ha. Xét mặt bằng chung của TN thì các công ty tại Đăk Lăk có NS nhỉnh hơn so với các đơn vị khác. Trong mặt bằng tổng thể thì khu vực TN có NS thấp hơn so với khu vực miền ĐNB khoảng 5%.

Tuy nhiên, báo cáo của Viện nghiên cứu CSVN chỉ ra rằng, trên thực tế NS vườn cây của các đơn vị TN trong thời gian qua thường thấp hơn so với tiềm năng thực sự của vườn cây. Ngoài ra, theo báo cáo của Ban Quản lý Kỹ thuật VRG, năm 2006 NSBQ của các công ty TN là 1,27 tấn/ha so với 1,96 tấn/ha của khu vực ĐNB, năm 2007 là 1,09 tấn/ha so với 2,05 tấn/ha, năm 2008 là 1,35 tấn/ha so với 1,96 tấn/ha và năm 2010 là 1,32 tấn/ha so với 1,93 tấn/ha của ĐNB. Như vậy, rõ ràng NSBQ của khu vực TN chỉ bằng khoảng 70% NS của khu vực ĐNB.

Các nguyên nhân làm năng suất thấp

Trong thời gian qua, các đơn vị tại TN đã tích cực thực hiện việc chuyển đổi cây giống và thanh lý vườn cây kém hiệu quả, vườn cây có tỷ lệ thực sinh nhiều. Đến nay các vườn cây này đã dần được đưa vào khai thác, chính vì có diện tích mới mở chiếm tỷ lệ cao nên đã kéo NSBQ của toàn đơn vị ở mức thấp, như ở Công ty TNHH MTV Cao su Chư Prông, Kon Tum.v.v. Nhìn chung, đến nay vườn cây và NS vườn cây của các công ty đã được cải thiện đáng kể.

Mặt khác, yếu tố thời tiết cũng góp phần không nhỏ vào việc tăng hay giảm NS của vườn cây. Thông thường nhiệt độ trung bình của khu vực TN từ 21,70C - 23,80C, đây là một nhiệt độ trung bình rất tốt, đồng thời mùa mưa hay đến sớm nên thuận lợi cho vườn cây tạo bộ lá ổn định sớm. Tuy nhiên, lượng mưa hàng năm của khu vực này thường không ổn định, có năm nhiều và có năm ít mưa, mặt khác lại không phân bổ đồng đều trong mùa mưa làm ảnh hưởng rất lớn đến công việc hàng ngày của người công nhân như cạo và trút mủ.

Bên cạnh các yếu tố về mặt thời tiết thì còn yếu tố xã hội. TN là địa bàn có số lượng công nhân người đồng bào dân tộc thiểu số nhiều nhất, họ có trình độ tay nghề cũng như ý thức trách nhiệm, tác phong công việc không được như người Kinh nên cũng ảnh hưởng đến sản lượng. Trong bản làng có ma chay hoặc cưới hỏi thì có thể họ sẽ nghỉ cạo hàng loạt, vì thế cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thành kế hoạch. Ngoài ra tình trạng trộm cắp mủ cũng diễn ra phức tạp hơn một số khu vực khác.

Văn Vĩnh (caosuvietnam.net) 

Bảng số liệu của Viện nghiên cứu cao su Việt Nam theo dõi  năng suất vươn cây một số công ty Tây Nguyên trong thời gian qua:  

Nhóm tuổi cạo
Công ty
Trung bình
Krông Buk
Chư Prông
Chư
Mang Yang
1 - 5
 
1.400
(873 - 1.540)
1.276
(1.006 - 1.453)
1.236
(1.040 - 1.373)
 
1.304
 
6 - 10
 
1.677
 
 
1.554
(1.436 - 1.618)
1.050
(976 - 1.141)
1.427
 
> 11
 
2.100
(1.900 - 2.600)
1.976
 
2.481
 
 
2.186
 
Ghi chú
 
Số liệu 2008
 
2000 - 2007
 
1993 - 2006
 
1997 - 2000
 
 

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL