Thứ hai, 21/04/2014

Last update:09:31:01 AM GMT

Website caosu.net: KINH NGHIỆM - GIẢI PHÁP KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM

Lạm dụng thuốc kích thích mủ cao su: Lợi trước mắt, hại lâu dài

Ảnh minh họa.Giá mủ cao su tăng cao từ đầu năm đến nay đã khiến nhiều người dân trồng cao su quá lạm dụng thuốc kích thích để ép cây cao su cho mủ. Tại các vùng cao su ở miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên và miền Trung, hầu như người trồng cao su đều sử dụng thuốc kích thích để bôi cho cây cao su.

argaiv1493

Theo khuyến cáo của cán bộ bảo vệ thực vật thì nên sử dụng thuốc kích thích mủ khoảng 3-4 tuần/lần. Nếu bôi liên tục trong thời gian dài hiệu lực sẽ giảm dần, có nhiều giống cao su thuốc không còn hiệu quả. Tuy nhiên do giá mủ tăng cao trong thời gian vừa qua đã khiến nhiều nông dân sử dụng thuốc liên tục để bôi cho cây cao su. Anh Khái, một người trồng cao su ở huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, cho biết bình thường một tuần gia đình anh sử dụng thuốc một lần, nhưng trong thời gian gần đây anh đã sử dụng thuốc bôi liên tục, và khai thác không có ngày nghỉ. Không chỉ gia đình anh mà nhiều hộ khác cũng làm tương tự.

Các hộ sử dụng thuốc kích thích mủ cao su đều khẳng định, khi mới bôi thuốc kích thích, cây cao su cho mủ gấp hai lần bình thường, nhưng càng về sau càng giảm dần. Sau một năm sử dụng thuốc kích thích không đúng quy trình, nhiều vườn cao su đã không cho mủ nếu không tiếp tục sử dụng thuốc. Thậm chí có những vườn cao su do bị lạm dụng thuốc kích thích để cho khai thác nhiều nên sức đề kháng kém, bị sâu bệnh đã bị hỏng không thể khai thác được nữa.

Để đầu tư một ha cao su từ ban đầu tới khi cho khai thác mất cả tỷ đồng. Việc người dân sử dụng thuốc kích thích mủ cao su không đúng quy cách, có thể mang lại cái lợi trước mắt, nhưng về lâu dài có thể sẽ gây ra những cái hại khôn lường.

Thanh Sơn (caosuvietnam.net)

Cách phát hiện chất bột trắng lạ pha trộn gây giảm chất lượng mủ cao su

Ảnh minh họa.Trong thời gian gần đây, theo phản ảnh của một số Hội viên về việc mủ cao su bị pha trộn bột trắng lạ làm giảm chất lượng, Hiệp hội Cao su Việt Nam đã nhờ Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam phân tích tìm cách phát hiện chất này để hướng dẫn các nhà máy không thu mua nguồn mủ cao su kém chất lượng.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện, chất bột này pha trộn vào mủ cao su gây giảm chất lượng mủ sau sơ chế, có thể rớt xuống đến hạng "ngoại lệ" vì hàm lượng tro cao 4-10 lần so với mủ bình thường, còn chất bẩn cao hơn 2-4 lần và chỉ số duy trì độ dẻo (PRI) giảm 10-16 đối với mủ khối. 

Chất bột trắng này làm tăng độ TCS (tổng hàm lượng chất rắn) của mủ cao su nên người bán sẽ được tăng lợi nhuận từ 8 - 15%, còn nhà máy sẽ bị hao hụt lượng cao su khô sau sơ chế gây thiệt hại về tài chính đáng kể. 

Theo Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, đối với mủ ly tâm, bột trắng này làm sai lệch kết quả kiểm nghiệm xác định hàm lượng Ma-nhê (Mg), ảnh hưởng đến chất lượng cao su ly tâm vì tăng KOH và giảm MST. 

Với cao su kém chất lượng, doanh nghiệp nếu không phát hiện được, sẽ bị mất uy tín nghiêm trọng đối với khách hàng. 

Theo Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, chất bột trắng này rất khó nhận biết qua ngoại quan (nhìn, ngửi, sờ...). Để nhận diện được chất này, có những cách sau: 

- Khi thu mua mủ từ các thương lái hoặc tư nhân, nhà máy nên tìm cách trì hoãn thời gian tiếp nhận; vì nếu mủ bị độn bởi hóa chất này thì sau 3 giờ mủ sẽ biến màu, chuyển từ trắng sang tím và có sự đông kết cục bộ (vón cục). 

- Nếu có máy ly tâm, có thể đưa mẫu mủ vào ly tâm với tốc độ thấp nhất (4.000 vòng/phút) trong thời gian 5 phút: 

+ Sau khi ly tâm, nếu mủ có sự phân lớp rõ ràng (2 màu, trắng và vàng hoặc trắng phần trên, phần giữa màu trong suốt dưới cùng màu trắng đục) là mủ không có trộn hóa chất này. 

+ Nếu sau ly tâm dung dịch mủ không có sự phân lớp rõ ràng là mủ đã bị pha trộn hóa chất này. 

Theo Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, để phát hiện bột trắng này, có thể tiến hành theo cách sau: 

+ Lấy 50 ml mủ cao su cho vào cốc (ly) đáy bằng, cho vài giọt acid clohydric (HCl) hoặc acid axetic (CH3COOH) dung dịch 50% vào cốc để mủ đông lại hoàn toàn. 

+ Lấy muỗng (thìa) nhỏ ép miếng mủ đông để lấy nước serum chảy ra, cho serum vào 1 cốc thủy tinh (becher), nhỏ vài giọt dung dịch Bari clorua (BaCl2) 5% vào, quan sát nếu thấy có phản ứng kết tủa trắng đục hiện ra, thì mẫu mủ có pha trộn chất bột trắng lạ vào mủ cao su. 

Để ngăn chận việc pha trộn các chất gây hại vào mủ cao su, Hiệp hội Cao su Việt Nam khuyến cáo các Hội viên và doanh nghiệp cần tăng cường kiểm tra nguồn mủ nước trước khi đưa về nhà máy, dứt khoát không thu mua và ghi nhận thông tin của các nguồn cung cấp (thương lái, chủ vườn) loại mủ có pha trộn tạp chất để thông báo về cho Hiệp hội và Hiệp hội sẽ thông báo cho các Hội viên, doanh nghiệp khác nhằm tránh không thu mua mủ cao su từ các nguồn này. 

Hiệp hội và Viện cùng đề nghị Ban quản lý thị trường các cấp từ Quận, Huyện trở lên cùng vào cuộc, đề ra biện pháp ngăn chặn các hành vi gian lận trong lĩnh vực mua bán mủ cao su nhằm bảo vệ quyền lợi cho các hộ tiểu điền, các nhà máy sơ chế cao su và bảo vệ thương hiệu cho cao su Việt Nam. 

Nguồn: Hiệp hội Cao su Việt Nam

Trị bệnh mụn cóc trên cây cao su

Ảnh minh họa.Bệnh mụn cóc là bệnh do nấm Botryodiplodia theopeomadepat, bệnh đã được Viện Nghiên cứu cao su (thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su VN ) xác định. Ban đầu bệnh tấn công lên cây cao su làm trên thân xuất hiện những nốt sần bằng đầu chiếc đũa mà một số bà con thường gọi là bệnh mụn cóc. Dần về sau mầm bệnh phát triển lớn dần và lan ra nhanh chóng cả thân cây. Khi cây đã bị nhiễm nặng thì toàn thân bị khô dần, bong vỏ và chết. Một số giống cao su dễ nhiễm bệnh này như: RRIV 4, PB 260, VM 515, PB 235. Trong đó RRIV 4 rất dễ nhiễm.

Hiện nay do đang vào mùa mưa nên nấm bệnh có điều kiện thuận lợi lây lan và phát triển rất mạnh. Ngoài các loại bệnh thường gặp trên cây cao su thì trong thời gian gần đây bệnh mụn cóc ngày càng gây hại nặng và lây lan ở nhiều nơi như: Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Bình Phước, Tây Ninh…

Bệnh mụn cóc lây lan theo đường nước, gió… Bệnh thường gây hại giai đoạn cây cao su trong thời kỳ thu hoạch mủ. Sau 1 tuần cây bị nhiễm bệnh, năng suất mủ của cây có thể giảm từ 10 – 20%. Nếu trong giai đoạn này không phòng trị kịp thời cây sẽ khô dần, bong vỏ và chết chỉ sau 3 tháng. Vì vậy cần nhận diện đúng bệnh và phun thuốc hóa học đặc trị để khống chế chúng trong thời gian ngắn nhất, làm ngăn chặn dịch bệnh tiếp tục phát triển và phục hồi lại vườn cao su, đó chính là điều rất cần thiết và quan trọng hiện nay.

Nguồn: http://nongnghiep.vn

Cơ cấu bộ giống cao su giai đoạn 2011 – 2015

Ảnh minh họa.Ngày 11/7/2011, Q. Chủ tịch HĐTV VRG Lê Quang Thung đã ký quyết định số: 322/QĐ-HĐTVCSVN, ban hành cơ cấu bộ giống cao su giai đoạn 2011 – 2015. Với mục tiêu năng suất mủ cao, thích hợp từng vùng trồng, cơ cấu giống mới được hiệu chỉnh, bổ sung giống vào các Bảng, đồng thời đưa ra khuyến cáo giống cho các vùng trồng mới, đặc biệt là các vùng phi truyền thống.

Nhiều thay đổi so cơ cấu giống 2006 - 2010

Cơ cấu bộ giống giai đoạn 2011 – 2015, được chia thành 3 Bảng, với mức độ ưu tiên giảm dần. Các giống ở Bảng I được trồng đến 60% diện tích, mỗi giống trồng không quá 20% diện tích. Trong đó, khu vực Đông Nam bộ trồng giống: RRIV 1, RRIV 5, RRIV 124, PB 255; Tây Nguyên 1 (cao trình dưới 600 m): PB 260, PB 312, RRIM 600, RRIC 121; Tây Nguyên 2 (từ 600 – 700 m): PB 260, PB 312, RRIM 600; Nam Trung bộ: RRIM 600, RRIM 712, RRIC 100, PB 260; Bắc Trung bộ: RRIM 600, RRIM 712, RRIC 100, RRIC 121; Tây Bắc (cao trình dưới 600 m): RRIV 1, IAN 873, RRIM 712, RRIC 121; Campuchia: RRIV 1, RRIV 5, RRIV 124, RRIC 121 và Nam Lào: PB 260, RRIM 600, RRIV 1, RRIV 124.

Bảng II, trồng đến 30% diện tích, mỗi giống trồng không quá 10% diện tích. Khu vực Đông Nam bộ trồng các giống: RRIV 106, RRIV 107, RRIV 114, RRIV 109, IRCA 130, PB 260; Tây Nguyên 1 (cao trình dưới 600 m): RRIV 1, RRIV 5, RRIV 103, RRIV 106, RRIV 107, RRIV 124, PB 255; Tây Nguyên 2 (từ 600 – 700 m): RRIV 106, RRIV 124, RRIV 103, RRIV 111, RRIC 121, GT 1; Nam Trung bộ: RRIV 1, RRIV 5, RRIV 106, RRIV 107, RRIV 124, RRIC 121, PB 312, Bắc Trung bộ: RRIV 1, RRIV 124, IAN 873, VNg 77-4, GT 1; Tây Bắc (cao trình dưới 600 m): VNg 77-4, RRIM 600, PB 312, RRIV 107, RRIV 124, GT 1; Campuchia: RRIV 106, RRIV 107, RRIV 114, PB 260, PB 255, RRIM 600, GT 1 và Nam Lào: PB 312, RRIC 121, RRIV 5, RRIV 103, RRIV 106, RRIV 114, GT1. 

Bảng III, trồng đến 10% diện tích, mỗi giống trồng đến 10ha. Các giống cao su dãy RRIV 100 (RRIV 101 đến 125) và dãy RRIV 200 (RRIV 201 – 215) ngoài các giống RRIV có ở Bảng I và Bảng II; IRCA 41, IRCA 130, IRCA 230, PB 311, Haiken 1, SCATC 88/13, VNg 77-2… và những dòng vô tính khác được sự đồng ý của Ban Quản lý kỹ thuật VRG. Ngoài ra, cơ cấu bộ giống cao su giai đoạn 2011 – 2015, còn ban hành cơ cấu giống tạm thời vùng Đông Bắc. Theo đó, vùng Đông Bắc trồng đến 70% diện tích các giống IAN 873, VNg 77-4 và VNg 77-2; trồng sản xuất thử các giống: GT 1, RRIM 600, RRIM 712, RRIC 121, SCATC 88/13, Haiken 1 và trồng khảo nghiệm các giống do Viện nghiên cứu Cao su VN (NCCS) bố trí.  

Theo Viện NCCS VN, về nguyên tắc cần trồng với cơ cấu giống cân đối, đặc biệt các giống Bảng I: không trồng tập trung vài giống; trồng cách ly, mỗi giống không trồng liền vùng quá 200 ha và quản lý giống, đảm bảo không trồng lẫn giống, lộn giống. So cơ cấu giống giai đoạn 2006 – 2010, cơ cấu giống mới có sự thay đổi qui mô khuyến cáo giữa Bảng I và Bảng II. Cụ thể, giống PB 260 ở Đông Nam bộ từ Bảng I xuống Bảng II do đã trồng tỷ lệ cao và có hạn chế về năng suất. RRIC 121 ở Tây Nguyên 2 từ Bảng I xuống Bảng II do hạn chế về sinh trưởng ban đầu ở vùng cao trình cao. LH 88/236 từ Bảng II xuống Bảng III ở Đông Nam bộ do dễ nhiễm bệnh Botriodiplodia. Bên cạnh đó, tỷ lệ giữa Bảng I và Bảng II là 60% và 40% thay vì 55% và 40% như trước. Các giống RRIV 2, RRIV 3 và RRIV 4 được khuyến cáo không trồng do dễ nhiễm bệnh Corynespora.  

Đặt tên chính thức cho các dòng vô tính 

Ông Lê Mậu Túy – Trưởng bộ môn Giống Viện NCCS VN, cho biết trước đây các dòng vô tính do Viện lai tạo khởi đầu được đặt tên là L/H (lai hoa), theo sau là số ghi năm lai tạo và thứ tự thu hoạch của từng vụ lai. Hiện tên các giống trong nước lưu hành gồm RRIV (RRIV 1 đến RRIV 5) và L/H. Nay cần thiết phải đặt tên chính thức cho các dòng vô tính đã qua chọn lọc nhằm đảm bảo tên gọi thống nhất, tránh tên dài và dễ nhầm lẫn do trùng tên (do lai tạo các năm khác nhau nhưng có cùng số thứ tự). Đồng thời, việc đặt tên chính thức cũng nhằm khẳng định thành công của Viện NCCS VN, tạo thương hiệu trong việc công nhận giống trong nước cũng như trao đổi thông tin quốc tế.

Cách đặt tên, các giống trong cùng dãy số ứng với giai đoạn 10 năm lai tạo. Các dòng vô tính lai tạo trong cùng thập niên được chọn lọc về sau được tiếp tục đặt tên vào cùng dãy số. Dãy RRIV 100 (lai tạo từ vụ lai đầu tiên đến vụ năm 1990, bao gồm các giống LH 82/8 đến LH 90/1094), bắt đầu từ RRIV 101 (ngoài 5 dòng đã đặt tên từ RRIV 1, RRIV 2, RRIV 3, RRIV 4 và RRIV 5) là tên chính thức. Dãy RRIV 200 (từ vụ lai năm 1991 đến 2000, bao gồm các giống LH 91/1029 đến LH 95/395), bắt đầu từ RRIV 201 là tên chính thức.

Bình Nguyên
Nguồn: Tạp chí cao su Việt Nam

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter