Chuyên trang cao su

Thứ sáu, 27/02/2015

Last update:08:58:58 PM GMT

Website caosu.net: KINH NGHIỆM - GIẢI PHÁP KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM

Sử dụng thuốc kích thích phải theo quy trình

Hiện nay, việc sử dụng thuốc kích thích mủ trên vườn cây rất đáng lo ngại, nhất là đối với vườn cây tiểu điền. Nhiều nông dân xem đây là “thần dược” và lạm dụng quá mức, phải trả giá đắt. Vậy liều lượng sử dụng, nhịp độ bôi, tiêu chuẩn cây được sử dụng, nồng độ, thời vụ áp dụng, phương pháp bôi… như thế nào là hợp lý? Xung quanh vấn đề này, PV Tạp chí Cao su đã có buổi trao đổi với ông Phan Thành Dũng – Phó Viện trưởng Viện NCCS VN.

argaiv1992

- Xin ông cho biết kích thích mủ có những dạng nào, việc lạm dụng thuốc kích thích sẽ gây hậu quả ra sao?

Ông Phan Thành Dũng: Nguyên lý của kích thích là phóng thích khí ethylen vào trong mô cây. Thông thường có hai kiểu kích thích mủ: sử dụng thuốc dạng lỏng hoặc mỡ bôi lên cây và kích thích bằng khí ethylen (RRIMFLOW). Sử dụng thuốc kích thích đúng liều lượng sẽ cho sản lượng nhiều hơn. Khi mới dùng, cây cho mủ tăng từ 20 – 30%, giúp tăng hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, sử dụng thuốc không theo quy trình kỹ thuật và lạm dụng thuốc quá mức sẽ làm vườn cây giảm sản lượng, giảm hàm lượng DRC. Nếu sử dụng liên tục trong thời gian dài, cộng với khai thác quá cường độ, cây sẽ bị khô mủ, dẫn đến giảm năng suất vườn cây cũng như  chu kỳ khai thác bị rút ngắn lại.

Để quản lý và ngăn chặn tình trạng công nhân lén bôi thuốc kích thích lên vườn cây, cần thực hiện những biện pháp gì, thưa ông?

Ông Phan Thành Dũng: Tại những đơn vị, công tác quản lý kỹ thuật có hệ thống và được thực hiện tốt, ý thức của công nhân, tổ trưởng, đội trưởng cao sẽ không xảy ra tình trạng này. Ngược lại, những nơi công tác quản lý không tốt, nhất là nơi thực hiện ăn chia sản phẩm hay giao khoán vườn cây dễ xảy ra hiện tượng lén bôi thuốc.

Tuy nhiên, với những đơn vị làm bài bản, chỉ cần nhìn vườn cây là biết chắc chắn có sử dụng thuốc kích thích hay không. Thông thường, sau khi sử dụng thuốc thì thời gian mủ chảy nhiều hơn lúc không bôi. Ví dụ, bình thường mủ chảy khoảng 11h-12h trưa thì ngưng, nhưng sử dụng thuốc kích thích mủ chảy đến 2h-3h chiều.

Hiện nay, trên thị trường bày bán rất nhiều loại thuốc kích thích mủ, hầu hết không có màu, hàm lượng, chất lượng thuốc thế nào rất khó kiểm soát. Đối với những thuốc do Viện Nghiên cứu Cao su VN sản xuất như Stimulatex thường có màu xanh, đỏ, cam, đã được nghiên cứu và dùng thử nghiệm trong thời gian dài nên hiệu quả hoàn toàn yên tâm.

Để ngăn chặn trình trạng công nhân lén bôi thuốc lên vườn cây, trong Quy trình kỹ thuật cây cao su năm 2012 do VRG ban hành trong tháng 9 này, tại Điều 159 (trách nhiệm công nhân cạo mủ), nêu rõ “Công nhân không tự ý mua và sử dụng bất kỳ hóa chất bên ngoài để sử dụng trên vườn cây khi chưa được sự đồng ý của phòng kỹ thuật công ty”.

- Để sử dụng thuốc hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất, theo ông phải thực hiện như thế nào?

Ông Phan Thành Dũng: Trước hết, phải xét tiêu chuẩn cây được sử dụng chất kích thích. Đó là những cây sinh trưởng bình thường, kỹ thuật cạo tốt. Còn những cây bị cụt ngọn, bệnh nặng, có dấu hiệu khô mặt cạo hoặc cây quá nhỏ không được bôi chất kích thích. Tùy theo tuổi cạo mà liều lượng, nhịp độ bôi khác nhau: Cây có tuổi cạo từ 1 – 5, bôi từ 0,5 – 1g/cây/lần theo phương pháp Pa; cây tuổi cạo từ 6 – 10, bôi từ 0,75 – 1,5g/cây/lần theo phương pháp Pa; cây tuổi cạo trên 10, bôi từ 1 – 2g/cây/lần trên miệng cạo ngửa theo phương pháp Pa, từ 0,75 – 2g/cây/lần trên miệng cạo úp theo phương pháp La. Khoảng cách giữa hai lần bôi ít nhất là 3 tuần.

Đối với các vùng có hai mùa mưa nắng rõ rệt (Đông Nam bộ, Tây Nguyên) bôi chất kích thích vào các tháng 5, 6, 7, 10, 11 và 12. Vùng khác bôi vào tháng 4, 5, 6, 8, 9 và 10. Bôi chất kích thích trước nhát cạo kế tiếp 24 giờ – 48 giờ. Không bôi khi cây còn ướt, lúc trời sắp mưa, thời tiết khô hạn và mùa rụng lá qua đông.

Phương pháp bôi trên vỏ tái sinh (Pa): khuấy đều chất kích thích trước khi sử dụng, dùng cọ hoặc bàn chải bôi một băng rộng 1 cm, mỏng đều trên vỏ tái sinh tiếp giáp với miệng cạo. Bôi trên miệng cạo không bóc lớp mủ dây (La): khuấy đều chất kích thích, dùng cọ hoặc bàn chải bôi một lớp mỏng đều ngay trên miệng cạo (áp dụng cho miệng cạo úp). Dụng cụ bôi thuốc kích thích là cọ số 8 hoặc bàn chải cải tiến có bề rộng 0,8 cm.

Xin cảm ơn ông!

Phan Thắng (thực hiện)
 Theo Tạp chí CSVN

Sri Lanka: Dao cạo mủ mới để khai thác hiệu quả cây cao su

Viện nghiên cứu cao su Sri Lanka (RRISL: Rubber Research Institute of Sri Lanka) vừa giới thiệu dao cạo mủ được cải tiến về mặt kỹ thuật có thể dùng để khai thác mủ mà không làm phương hại đến cây và còn giúp khai thác khối lượng tối đa mủ cao su từ cây.

Các nhà trồng cao su có thể thu hoạch tốt sản lượng cao su nếu công việc cạo mủ được làm đúng đắn. Theo các nhà chuyên môn, những ai chưa được đào tạo cạo mủ thì không thể sử dụng dao cạo mủ thông thường mà không làm phương hại đến cây. Được đào tạo tốt và có nhiều kinh nghiệm là điều kiện tiên quyết để sử dụng dao cạo mủ một cách đúng đắn.
Ngành cao su hàng năm đã bị mất một khối lượng lớn lợi nhuận là do không thể cạo mủ mà không làm hại cây. Khi bị cạo phạm, đời sống của cây sẽ bị giảm.
Làm giảm đời sống của cây và sự cẩu thả trong khi khai thác mủ có thể có hậu quả nghiêm trọng đối với ngành cao su trong nước, cho nên Viện nghiên cứu cao su Sri Lanka đang giới thiệu dao cạo mủ mới như là một giải pháp để giải quyết các vấn đề nêu trên. Con dao cạo mủ cải tiến này có thể kiểm soát bề dày vỏ của nhát dao cạo và cũng sẽ bảo vệ bề dày vỏ.
"Dao cạo mủ mới cũng sẽ bảo vệ thượng tầng của cây mà không gây hại. Mọi người dù không có kinh nghiệm hoặc chưa được đào tạo cạo mủ cũng có thể sử dụng dao cạo mủ mới này mà không gặp vấn đề gì."
Các chủ đồn điền cao su và các nhà trồng cao su có thể mua dao cạo mới này tại Phòng dịch vụ tham vấn của Viện nghiên cứu cao su Sri Lanka tại Ratmalana, Viện nghiên cứu cao su Sri Lanka tại Agalawatta, Vụ phát triển cao su Sri Lanka và các Văn phòng khu vực tại Kalutara, Kegalle, Ratnapura, Galle và Monaragala.
(Rubber Market News, 11 tháng 09, 2012)
(Hiệp hội Cao su VN biên dịch (M.L.), 
nguồn: www.anrpc.org)

Phương pháp tạo tán vườn cây KTCB tại cao su Tây Ninh

Ảnh minh họa.Sau nhiều năm thực hiện việc tạo tán trên vườn cây KTCB trồng tái canh năm 2005 và 2010 tại NT Bến Củi, Công ty CPCS Tây Ninh đã nhận nhiều kết quả tích cực từ thực tế. Cây cao su có thân cao, tán rộng, nhu cầu không gian lớn để phát triển tán lá tự do. Khi được chọn lọc trồng với mật độ dày, thì khoảng không gian cho sự phát triển của mỗi cá thể bị hạn chế tối đa. Do đó, ưu thế ngọn càng được phát huy để cạnh tranh ánh sáng làm cho thân chính vươn cao, cành ngang tự hủy, tạo thế cây mất cân đối dễ đổ ngã do gió.

Đặc biệt, với những dòng vô tính (DVT) phân cành muộn như LH 88/236, LH 90/952, RRIV I… do ưu thế ngọn mạnh có khuynh hướng vươn cao, tán hẹp dễ đổ ngã bởi gió. Nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay, nguy cơ vườn cây cao su bị thiệt do gió bão là rất lớn.  Đối với cây trưởng thành đưa vào khai thác có tán hẹp, thân nhỏ do không có được một cành ở tầng dưới thì vỏ mỏng, sản lượng thấp.

Đó là những lý do tại sao phải can thiệp tạo tán cho cây kiến thiết cơ bản (KTCB) để khi trưởng thành đưa vào khai thác có thể cây vững, cân đối giữa bề vòng thân cây, bộ tán hợp lý, thân to ít gãy đổ. Đồng thời, đạt mục đích duy trì mật độ cả chu kỳ, sản lượng mủ cao và sản lượng gỗ khai thác lớn khi thanh lý.

Một số biện pháp được giới thiệu trước đây như: trùm túi PE hoặc cột túm tầng lá trên cùng tỏ ra không khả thi (thao tác phức tạp, tốn công). Vườn cây tiểu điền được cắt ngang thân chính ở độ cao 2,5-3 m cũng không đem lại hiệu quả mong muốn. Đặc biệt, với DVT VM515 gãy đổ rất nhiều do lốc xoáy. Mỗi năm NT Bến Củi mất đi 40-50 ha cây kinh doanh, làm mật độ cây cạo thấp, sụt giảm năng suất nghiêm trọng.

Xuất phát từ tình hình trên, NT Bến Củi đã thực hiện việc tạo tán trên vườn cây KTCB trồng tái canh năm 2005 và 2010. Sau nhiều năm thực hiện, Công ty CPCS Tây Ninh ghi nhận nhiều kết quả tích cực từ thực tế.

Về phương pháp tạo tán, đối với DVT phân cành sớm như PB 255, LH 83/85, PB 260 độ cao phân cành là 3-3,5 m. Với DVT này, có một tỷ lệ khoảng 20% phân cành từ 2,5 m. Ở độ cao này không cắt cành ngang, để đa số phân cành đạt 2-3 tầng thì cắt ngọn chính để khống chế ưu thế ngọn.

Tại vị trí cắt ngọn sau thời gian sẽ có 2-3 cành khác phát triển thành ưu thế ngọn mới, nhưng không mạnh vì ưu thế đó được chia cho 2-3 ngọn nhỏ thì sau này tán sẽ nhẹ hơn. Trong thời gian khống chế ưu thế ngọn đã có sẵn 2-3 tầng cành sẽ không gây sốc cho quá trình sinh trưởng tăng vanh thân cây, mà còn tạo nên một bộ tán sum suê ở năm 3-4 thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tăng vanh tạo thân trụ tốt, vườn cây sẽ giao tán cuối năm thứ 3. Một trong những tầng cành này sẽ có một cành ưu thế phát triển mạnh tạo thành cành lớn sau này cho giai đoạn trưởng thành khai thác, lúc này tán sẽ có ít nhất 2-3 cành chính tồn tại, trong khi các cành nhỏ, yếu sẽ tự hủy.

Đối với DVT phân cành muộn, khi tầng lá ngọn đạt độ cao 3-3,5 m, cắt bỏ tầng lá ngọn để lại 02 lá, từ 2 mầm của 2 lá này và mầm vảy cá sẽ cho 2-3 chồi ngọn thay thế ngọn chính. Những cành này sẽ mọc lệch nhau vì đoạn giữa 2 tầng lá mắt thưa. Chính sự mọc lệch này sẽ tạo thế bền chắc, tránh hiện tượng tét dọc thân cây. Nếu cắt bỏ hết tầng lá trên cùng, sát tầng lá thứ hai sẽ xảy ra hiện tượng nảy chồi tập trung tại một điểm làm nặng tán dễ cong gãy thân chính ngay trong giai đoạn non hoặc tét dọc thân cây.

Việc cắt ngọn phân cành chủ động ít nhiều sẽ làm nặng tán, giai đoạn đầu làm nghiêng ngọn, nếu không có bước xử lý tiếp theo sẽ làm thân cây bị cong dẫn đến gãy. Để khắc phục hiện tượng cong, gãy phải tỉa cành nhỏ bỏ bớt lá về phía cong. Tuyệt đối không cắt bỏ hết 2-3 cành chính, vì làm như vậy ảnh hưởng quá trình sinh trưởng của cây.

Về độ cao cắt ngọn phải cân nhắc để đạt mục tiêu: Cành mới thay thế ngọn không vươn dài làm mất cân đối thân và tán. Đoạn thân chính là trữ lượng vỏ kinh tế khai thác đúng chu kỳ. Nếu cắt ngọn ở độ cao nhỏ hơn hoặc bằng 3 m thì trữ lượng vỏ không đủ khai thác 20 năm vì càng lên cao khó khống chế hao dăm. Nếu cắt ngọn thấp hơn nữa thì cành thay thế sẽ vươn dài làm mất cân đối giữa thân và tán làm cây dễ gãy đổ. Độ cao cắt ngọn tốt nhất là 3,5 – 4 m để vừa đảm bảo trữ lượng vỏ cạo 20 năm, vừa có tán lá cân đối với thân vì cành thay thế nhỏ tán nhẹ.

B.N (theo Phòng KTNN Công ty CPCS Tây Ninh)

Thách thức từ phòng trừ bệnh hại cây cao su

Ảnh minh họa.Cũng như các loại cây trồng nông nghiệp khác, bệnh hại tác động rất lớn đến việc thuần hóa cây cao su. Ngày nay đã có hơn 100 mầm bệnh được xác định có khả năng tấn công vào các vườn cao su.Tuy nhiên có 6 bệnh là tác nhân quan trọng làm giảm sản lượng cao su tại các quốc gia Đông Nam Á. Đó là các bệnh Olidium Leaf Fall (OLF), Corynespora Leaf Fall (CLF), Gloeosporium Leaf Fall (GLF), Phytophthora Leaf Fall (PLF), bệnh thối vỏ Bark Rot (BR) và bệnh rễ trắng White Root Disease (WRD).

Sự phân bố và mức độ trầm trọng của các bệnh này trong một quốc gia đặc biệt phụ thuộc vào giống, địa hình, thời tiết, tiểu khí hậu và loài sinh lý của mầm bệnh hiện diện tại địa phương. Hiện nay bệnh rụng lá Nam Mỹ (SALB) vẫn còn là loại bệnh lá đáng sợ nhất ở khu vực này.

Trong các năm qua, tình hình nhiễm bệnh của các loại bệnh này đã thay đổi đáng kể. Các bệnh truyền thống như OLF, GLF, PLF và bệnh thối vỏ đã không còn ảnh hưởng lớn trong trồng cao su ở một số quốc gia. Nguyên do là đã có các giống chống chịu bệnh được nghiên cứu và đưa vào áp dụng. Tuy nhiên một số giống cao sản mới không chống chịu lại bệnh mới và các bệnh này lan truyền sang các giống truyền thống. Ví dụ như bệnh CLF lan rộng vào cuối những năm 1980 đã tấn công các giống RRIC 103 và RRIM 752.

Bởi vậy nhằm hướng đến phát triển cao su bền vững cần có các cách thức và phương tiện để các nhà trồng cao su, nhà nghiên cứu, nhà lai tạo giống có biện pháp khắc phục.

Sự phức tạp trong chẩn đoán

Sự phức tạp trong xác định triệu chứng trong một số bệnh hại quan trọng đã dẫn đến việc nhận định sai các bệnh của cây cao su. Nét độc nhất của corynespora cassiicola, tác nhân gây bệnh rụng lá Corynespora (CLF) là sự thay đổi trong phát sinh triệu chứng phụ thuộc vào một số yếu tố khác nhau. Sự đa dạng phát sinh triệu chứng này đã trở thành một hạn chế nghiêm trọng để xác định bệnh hại trên thực địa. Xu thế đó cũng xảy ra đối với các bệnh OLF, GLF, PLF, SALB, WRD và nhiều loại bệnh khác. Hệ quả là các nhà trồng trọt và cán bộ khuyến nông bị lúng túng trong việc xác định nguyên nhân mầm bệnh.

Loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả

Thỉnh thoảng, các loại thuốc bảo vệ thực vật bị các cơ quan hữu quan khuyến cáo loại bỏ do tính độc hại cao cho động vật có vú và nguy hiểm cho môi trường. Trên cơ sở này, các nhà bảo vệ thực vật phải thường xuyên và tích cực quan tâm đến việc chọn lọc các loại thuốc này.

Các nhận xét trái chiều khi tuyển chọn giống kháng bệnh

Thường các nhà bảo vệ thực vật kiểm tra các giống mới về mặt kháng bệnh qua nhiều giai đoạn trước khi đưa ra trồng đại trà. Và họ phải cẩn trọng khi đưa ra các giống mới vì nếu chỉ tuyển chọn trong giai đoạn kiến thiết cơ bản có thể đưa đến các nhận xét sai lệch. Các đặc tính phụ ra hoa, hình thành vỏ…cũng đóng vai trò quan trọng trong biểu hiện của giống mẫn cảm chống chịu bệnh ở cao su giai đoạn trưởng thành.

Sự xâm lấn của các mầm bệnh mới

Thách thức quan trọng nhất mà các nhà bảo vệ thực vật phải đối mặt là sự xâm lấn của các mầm bệnh mới. Ví dụ tiêu biểu cho thiệt hại nghiêm trọng do bệnh mới trong môi trường mới là bệnh rụng lá CLF phát tán vào những năm cuối thế kỷ 20. Các đợt dịch lây lan do xâm lấn của mầm bệnh mới có nguyên do từ các cây chủ khác hiện diện trong từng quốc gia, các quốc gia láng giềng và các lục địa khác. Việc kiểm soát bệnh sẽ phải tiến hành đều đặn và các nhà thực vật học phải theo dõi đầy đủ về quản lý các mầm bệnh trong thế giới cao su.

Thách thức từ phun xịt thuốc trị bệnh

Kiểm soát bằng hóa chất là một công nghệ đã được chấp nhận rộng rãi trong quản lý các bệnh hại cao su từ đầu thế kỷ 20. Thách thức chủ yếu liên quan đến công nghệ này là chiều cao của cây cao su từ 20-30m, mật độ tán cao, các chi phí phát sinh trong mua sắm trang thiết bị phun xịt có công năng mạnh, chi phí khổng lồ cho thuốc phun, vùng đất không bằng phẳng, ô nhiễm môi trường và nguy hại đến sức khỏe.

Nhờ nỗ lực của các nhà lai tạo giống và các nhà bảo vệ thực vật, trong các quốc gia trồng cao su hàng đầu hiện nay đã đề nghị áp dụng giống kháng bệnh là cách hữu hiệu nhất. Xu thế tái canh hiện nay cho thấy rằng chỉ có các giống kháng bệnh mới được các nhà trồng tỉa chấp nhận. Giống RRIC 100, giống lai tạo nổi tiếng của Sri Lanka được biết đến do có các gen chống chịu bệnh hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các chương trình lai tạo tại các quốc gia trồng cao su để chuyển tính kháng bệnh cho các giống truyền thống cao sản.

Biến đổi khí hậu - Mối đe dọa mới

Biến đổi khí hậu là mối đe dọa mới do thời tiết đóng vai trò quan trọng trong phát triển và phát tán bệnh hại cho cây cao su. Các dẫn chứng từ xưa đã được nhìn thấy như đối với các bệnh rụng lá OLF, GLF, PLF, South American LF, thối vỏ và WRD kể từ giữa thế kỷ 20. Hiện nay cũng đã có nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về ảnh hưởng của thời tiết đối với bệnh rụng lá CLF, một loại bệnh nguy hiểm có nguồn gốc mới đây.

P.V (Theo báo cáo của Tiến sĩ C.K Jayasinghe, chuyên viên IRRDB về bảo vệ thực vật)
Nguồn: Tạp chí cao su Việt Nam

Các bài viết khác...

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL